Cách đánh giá vẻ đẹp ngoại hình của chó cảnh

Một con chó đẹp thuộc bất cứ giống chó cảnh nào cũng phải thể hiện một cấu trúc cơ thể khỏe mạnh và cân đối… Chính vì vậy mà ta phải dựa vào ngoại hình và phẩm chất để đánh giá, sử dụng chính xác các thuật ngữ về chó.

Đánh giá về cơ thể chó gồm: đầu, cổ, thân và chân.

ĐẦU:

Đầu chó không chỉ chứa não mà còn có các giác quan, như mắt, tai, mũi, lưỡi. Trên mõm chó có mũi chó, tiếp là sống mõm khoảng giữa mũi và mắt, tiếp đến là gốc sống mõm còn gọi là rãnh mắt. Mũi chó là cơ quan khứu giác, rất thính không những chỉ đánh mùi được mồi, các vật thwe mà còn có thể nhận biết được cả những biến đổi của nhiệt độ không khí xung quanh.

Hệ khứu giác của chó gồm những nếp gấp trong mũi để có thể đánh hơi và giữ mùi được lâu, những nếp xoăn mũi phức tạp hơn ở người rất nhiều, ngoài ra còn có màng nhày rất nhạy cảm, và những khúc cuộn gọi là cuộn gốc mũi. Các khúc cuộn này rất nhiều; xếp cuộn đóng vai trò quan trọng để chó phân biệt được các mùi rất tinh tế. Mùi hơi bốc lên, đôi khi chó phải hít vào, hoặc ngược lại phải thở ra qua mũi. Cho nên cũng dễ hiểu khi chó đánh hơi, hoặc khi đi đường nóng quá chó phải thở rất mạnh.

Dưới mũi là bộ hàm, hàm phải khớp khít nhau. Nếu hàm trên nhô ra phía trước, đó là khuyết tật hàm trên nhô, gọi là vêu. Nếu hàm dưới nhô lên gọi là trề. Xương sọ không có gì đặc biệt, chỉ chú ý phần lồi sau tiều não là xương châm, ở chó săn xương này càng phát triển thì càng có nhiều khả năng rất đặc trưng.

Nhiều người cho rẳng châm chó càng lồi thì chó càng thông minh. Nên nhiều người khi đánh giá chó không bao giờ quên sờ xương chầm.

Tai chó rất quan Irọng. Bình thường tai nằm phía trên mắt, chó đúng tiêu chuẩn phải có những số đo chính xác. Có những giống chó có vành tai ngắn hoặc trung bình, vênh lên gọi là tai vểnh, một số giống chó khác, phân nửa cuối vành tai cụp xuống gọi là tai cụp.

Mắt chó thể hiện sự tinh khôn, hiền lành hoặc hung dữ. Mắt phải nằm gọn khít trong hốc mắt. Nếu mắt có dử (gèn) thể hiện sức khở của chó đang bị kém sút, thường là triệu chứng yếu toàn thân.

CỔ:

Giới hạn từ đầu đến ngực. Một số giống chó có một khoảng da lông rộng, rất nổi bật ở cổ gọi là yếm.

THÂN:

Từ yếm xuống dưới nữa là ngực và vai. Ngực là khoảng giữa sườn và bụng, vùng thắt lưng là khoảng cong cuối lưng đến đầu túm lông đuôi. U vai ở vị trí sau cổ một chút, gần đỉnh của xương bả vai. Những giống chó khở “ngực rộng và sâu” nghĩa là lồng ngực to rộng đủ để chứa phổi nở nang, bụng thon. Thể trạng cường tráng, cơ bắp nổi rõ, đặc trưng cho bộ máy vận động khở. Vai rất dốc mới lao được nhanh mà không mệt. Còn loại vai ngắn và cao thì chậm chạp hơn và dáng nặng nề. Lưng chó phải thẳng, vùng thắt lưng khỏe và phẳng.

CHÂN:

Chân trước gồm vai, đùi trước, bờ sau đùi trước là diềm, cẳng nối với cườm chân (ứng với cổ tay ở người), cuối cùng là các ngón đều có móng.

Chân sau gồm đùi sau, diềm đùi ở bờ sau đùi nằm giữa khoeo, và đuôi hay túm lông đuôi. Khoeo ứng với gót chân ở người. Bàn chân từ khoeo đến ngang cổ chân, đế là mặt dưới các ngón, đen và hóa sừng.

Chân trước và chân sau của giống chó tốt phải là chân đứng thế tấn. Giống chó tốt phải có chân đứng thẳng. Đặc trưng của giống chó như giống béc giê, chân phải thẳng, các ngón chân nằm trên mặt đất, không nhô ra thụt vào.

Nhìn chung thể trạng của chó có năm loại hình cơ bản:

Loại hình thô: đầu to, cổ ngắn, nặng nề, vận động kém, bắp thịt to. Da dầy kém đàn hồi. Lông cứng và có nhiều lông con. Chó khỏe, dễ thích nghi. Hoạt động thần kinh mạnh song chậm. Đó là các giống chó Trung Á.

Loại hình mềm mại: đầu nhẹ, cổ thon. Vận động nhẹ nhàng, da mỏng, lông mịn, bắp thịt mỏng, nhanh nhẹn, hoạt động thần kinh yếu, thích nghi kém. Đó là các giống chó thấp, chó mini.

Loại hình vạm vở: xương khỏe, bắp thịt phát triển và nổi rõ. Da bóng, mỏng. Hoạt động thần kinh nhạy, nhanh. Đó là phần đông các giống chó Đông Âu.

Loại hình chắc mạnh: xương phát triền vừa, cơ chắc. Lớp mỡ dưới da không có. Đầu nhẹ, cổ linh hoạt. Chạy khở nhanh. Có sức sống tốt, dễ thích nghi. Hoạt động thần kinh mạnh. Đó là nhiều giống chó Nga.

Loại hình nhão : thân có nhiều mỡ, lớp mỡ có trong mô đệm dưới da và trong cả các bắp thịt. Da nhăn. Cổ và bụng sệ. Đi lại chậm chạp và uể oải. Hoạt động thần kinh mạnh nhưng chậm.

Việc xác định vẻ bề ngoài (ngoại hình) rất quan trọng trong việc mua chó và đánh giá chó.

CÁCH ĐÁNH GIÁ CHÓ CẢNH ĐẸP

Để đánh giá phẩm cbất của các giống chó, người ta thường dùng các số đo, tỷ lệ và chỉ số giữa cấc phần cơ thể. Người ta còn dùng thang điểm để đánh giá toàn diện các đặc tính của mỗi giống chó và cũng là để so sánh giữa các giống chó với nhau.

Các số đo, tỷ lệ và chỉ số.

Qua những số đo xương sọ của chó người ta lập các tỷ lệ và chỉ số, từ đó rút ra được những nhận xét quan trọng.

Chúng ta hãy lấy ví dụ về giống chó bốc xơ (Boxer) là một giống chó tiêu chuẩn để biết cách đánh giá ngoại hình (đầu) của chó:

Chó Bốcxơ (Boxer) phải có chiều rộng đầu bằng 2/3 chiều dàu đầu, chiều rộng mõm tương ứng với 2/3 chiều rộng đầu. Hơn nữa chiều dài sống mõm (từ mũi đến đường nối giữa hai mắt) bằng 1/3 chiều dài toàn đầu.

Nhờ nghiên cứu xương sọ và các xương khác mà ngườI ta có thể có những số đo, và rút ra những tỷ lệ và chỉ số ngoại hình. Chỉ số là tỷ lệ phần trăm của các số đo.

Các số đo thường được nhắc tới:

  • Chiều dài toàn đầu là chiều dài từ đỉnh đầu đến đầu mút mũi chó (LĐ).
  • Chiều dài sọ là chiều dài từ đỉnh hộp với các góc trong của lông mày (LS).
  • Chiều dài mặt hay mõm là chiều dài từ ngang cuối mũi đến góc trong của lông mày (LM).
  • Chiều rộng đầu là chiều rộng tối đa của đường do hai vòng ngoài của hõm mắt làm thành (LĐ).

Dùng compa để đo bề dày của sọ, không dùng thước dây hoặc thước thợ may để đo trực tiếp bề giày của sọ. Khi đo, mở rộng compa đến các phần giới hạn cần đo của sọ, sau đặt độ mở của cornpa lên thước dây để biết độ dài của phần phải đo. Vì sọ của chó có những chỗ lồi, rất lồi hoặc lõm. Như đoạn OST (O = đỉnh ; S = rãnh mắt ; T = mũi); nếu đo bằng thước dây mềm thì không chính xác. Những phần lồi của xương sọ mà đo bằng thước dàu sẽ sẽ dài hơn đo khoảng cách giữa các điểm đó bằng compa.

Nhưng đo các phần ở thân lại dùng thước dây mềm, mà không dùng compa.

  • Chiều cao thân đo bằng thước dây dọi từ điểm cao nhất của u vai đến mặt đất (hT)
  • Chiều dài thân đo từ u ngoài của xương gần khớp vai đến giữa xương ngồi của khung chậy (gò mông) (Lct)
  • Vòng cườm chân là vòng khối đốt bàn, dùng thước dây đo vòng quanh đốt 3 khối bàn, ngay dưới khớp cườm.
  • Chiều rộng ngực đo ở phía trước từ vai bên này sang vai bên kia.
  • Vòng ngực dùng thước dây đo vòng quanh ngực sau xương vai.
  • Chiều sâu ngực (=chiều cao ngực) đo ngay sau sau xương bả vai, từ phần dưới ngực đến phần trên u vai.
  • Chiều cao (= dài) chân trước đo từ mặt đất theo đường thẳng đứng đến chỗ lồi trên của khớp khuỷu.

Từ kết quả các số đo ta lập được các chỉ số:

  • Chỉ số đầu là tỷ lệ giữa chiều dài với chiều rộng đầu rồi nhân với 100:

Thí dụ: chỉ số đầu của chó săn poantơ (pointer) không vượt quá 45, nói lên  chiều rộng đầu thấp hơn ½ chiều dài đầu.

Hoặc dùng một chỉ số tương ứng:

  • Chỉ số cườm / thân là tỷ lệ % giữa vòng cườm chân với chiều cao thân (đến u vai). Chỉ số ngày càng lớn thì bàn chân càng to.
  • Chỉ số chân / thân là tỷ lệ % giữa chiều cao chân trước với chiều cao thân (đến u vai).
  • Chỉ số lồng ngực là tỷ lệ % của chiều rộng ngực với chiều sâu ngực.
  • Người ta so sánh các chỉ số đo được với các chỉ số tiêu chuẩn để nhận xét thể chất tốt hay xấu của một giống chó.

Thang điểm toàn diện.

Để đánh giá toàn diện một giống chó người ta thành lập thang điểm về 5 mặt sau:

  • Bảo vệ kho tàng và giữ nhà: tùy theo thể chất tốt hay xấu, khỏe hay già yếu, phản xạ với tiếng động và mùi lạ, v.v. có liên quan tới khả năng bảo vệ kho tàng và giữ nhà. Cho điểm từ 1 đến 10.
  • Tính nết: hiền lành hoặc dữ tợn, vui vẻ hoặc lãnh đạm không thích ồn ào hoặc dịu dàng, v.v… Từ 1 đến 10 điể
  • Quan hệ với trẻ em: quyến luyến và thích nô đùa với trẻ em, hoặc không thích gần trẻ em, có thể cắn cả trẻ em, v.v… Từ 1 đến 10 điể
  • Chăm sóc: tùy theo bộ lông dài hoặc ngắn, mượt hay rối xù để xác định công tắm, chải lông mất nhiều hoặc ít thờigiờ. Đó là công chăm sóc. Ít công chăm sóc được nhiều điểm. Từ 10 đến 1 điểm.
  • Thông minh: biết nhận xét, phân biệt các sự vật và người, hoặc đần độn sửa cắn lung tung. Dễ huấn luyện hoặc khó bảo v.v…Từ 1 đến 10 điểm.

Kết quả là cộng tất cả các điểm trên (thang 10 điểm), và lấy điểm trung bình của từng giống chó, để so sánh và đánh giá các giống chó.

Như vậy, các số đo, tỷ lệ, chỉ số và thang điểm toàn diện là cơ sở khoa học chính xác để đánh giá bộ xương, sự cân xứng của các phần cơ thể, các đặc tính của một giống chó, giá trị thực tế của chó. Đó là những yếu tố để lựa chọn những con chó đạt tiêu chuẩn của từng giống.

Bên cạnh các yếu tố tiêu chuẩn đó thì một số cấu trúc khác cũng có thể sử dụng để tham khảo trong việc đánh giá một giống chó.

Như tầm vóc và trọng lượng dao động trong một giới hạn khá rộng: một con chó bécgiê Xanh Becna (Saint Bernard) có thể đạt tới 100kg. Những con chó cảnh tai bướm (Papillons) chỉ nặng 1,5 – 1,8kg. Chó có tầm vóc to lớn, chiều cao đến u vai chỉ khoảng 0,82 – 0,85 mét, và chó Bắc Kinh cao không tới 18cm.

Giống trong cuốn sách này tương ứng với nòi (race) trong phân loại học.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.