Nhu cầu dinh dưỡng của chó và mèo theo khoa học – Dogily Petshop

Cũng như những động vật khác, chó và mèo cần có thức ăn để sống và duy trì sức khỏe. Thức ăn phải đầy đủ năng lượng cho sự hoạt động, sinh nhiệt hoặc những dạng năng lượng khác, làm nguyên liệu cho sự tăng trưởng, thay thế hoặc sản xuất. Những thành phần của thức ăn có chức năng đó thì được gọi là dưỡng chất. Những chất dinh dưỡng mà cơ thể động vật đòi hỏi nhưng cơ thể không tự tổng hợp được thì gọi là chất dinh dưỡng thiết yếu và phải được cung cấp từ thức ăn.

Nhu cầu năng lượng của chó

Năng lượng thường được cung cấp từ thức ăn, năng lượng cần cho sự sống và cung cấp sức cho chức phận của tế bào, năng lượng trong thức ăn là từ chất bột đường, chất béo và protein. Chất béo cung cấp năng lượng gấp đôi chất đạm hoặc chất bột đường. Một điều cần được lưu ý là nước không có giá trị năng lượng, nhưng mật độ năng lượng của thức ăn sẽ bị thay đổi theo độ ẩm của thức ăn.

Năng lượng ăn vào phải được điều chỉnh cẩn thận và duy trì sao cho ở mức độ gần với nhu cầu. Nếu cho ăn vượt quá nhu cầu hoặc thấp hơn nhu cầu về năng lượng thì có hại và sẽ dân đến béo phì hoặc sẽ phát triển không bình thường trên những chó còn trẻ. Năng lượng ăn vào không thích hợp kết quả là tăng trọng kém ở chó nhỏ và giảm cân khi trưởng thành.

Thiết nghĩ chúng ta cũng nên bàn sơ qua về chất đạm (protein) vì chất này cũng đóng một vai trò quan trọng cho sự sống. Protein là một phân tử lớn có chứa khoảng 20 amino acid. Protein là thành phần thiết yếu cho mọi tế bào sống, nó có những chức năng quan trọng như là điều chỉnh sự biến dưỡng, là thành phần enzyme và hormon và vai trò cấu trúc của thành tế bào và sợi cơ. Cần thiết để mô tăng trưởng và thay thế. Protein cũng là một nguồn năng lượng trong thức ăn.

Chó và mèo cần nguồn thức ăn có protein để cung cấp những amino acid đặc trưng mà mô của chúng không tự tổng hợp được với một tỷ lệ đủ cho sự tăng trọng tối ưu. Amino acid được chia làm amino acid thiết yếu và không thiết yếu. Amino acid thiết yếu là những amino acid không tự tổng hợp được bởi cơ thể mà phải cung cấp từ thức ăn. Amino acid không thiết yếu cũng là những thành phần của protein cơ thể quan trọng như nhau, nhưng nó có thể tự tổng hợp được từ sự dư thừa của những thức ăn chứa amino acid khác hoặc những thức ăn chứa nitrogen.

Protein cần thiết để duy trì sự phát triển bình thường, để thay thế protein bị mất đi của sự bong tróc tự nhiên của những tế bào biểu bì, lông hoặc những mô khác của cơ thể và những chất bài tiết. Protein cần cho sự phát triển, mang thai và tiết sữa. Protein động vật tương đốì cân bằng amino acid, với hàm lượng amino acid thiết yếu cao hơn và tiêu hóa tốt hơn protein thực vật. Thiếu protein chó mèo sẽ chậm lớn, giảm cân, lông không bóng mượt, dễ mắc bệnh.

Những ai nuôi mèo cần lưu ý là đối với mèo nhu cầu dinh dưỡng có nhiều sự khác biệt so với chó, đặc biệt là amino acid. Nó không chỉ đòi hỏi phải có mức protein để duy trì cao hơn những loài có vú khác mà còn đặc biệt nhạy cảm tới sự thiếu hụt arginine, những amino acid chứa lưu huỳnh và taurine trong thức ăn.

Nhưng mặt khác, nếu chúng ta cung cấp vượt quá nhu cầu về protein trong thức ăn cho thú thì phần protein dư thừa sẽ không được tích tụ vào mô cơ mà sẽ biến đổi thành mỡ và tích trữ ở mô mỡ.

Hầu hết những thú nuôi trong nhà sống với nhiệt đô trong nhà, nếu không mang thai hoặc cho sữa, không bao gồm công việc thường xuyên hoặc hoạt động quá mức và không lệ thuộc tới nhiệt độ khắc nghiệt. Trong tình trạng này, người ta gọi động vật ở trạng thái dinh dưỡng duy trì. Để duy trì được hoạt động bình thường cho thú thì chúng ta phải cung cấp đúng số lượng, cân bằng và hữu dụng về dinh dưỡng để duy trì hoạt động sinh lý và sức khỏe trí tuệ. Thúc đẩy điều kiện tối đa cho vật nuôi và từ đó đẩy lùi tính nhạy cảm đối với bệnh tật. Cung cấp đủ nồng độ cho phép vật nuôi đạt đến nhu cầu bằng cách ăn ngon miệng và có giá trị dinh dưỡng. Mặc dù chó thuộc loài ăn thịt, nhưng do gần gũi lâu ngày với loài người, được cho ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, nên chúng cũng có thể thích nghi như loài ăn tạp.

Không như những loài vật khác, loài chó có một sư biến động lớn lao về trọng lượng và thể vóc trong cùng một loài, điều này làm phức tạp thêm cho việc tính toán về nhu cầu năng lượng. Chó trưởng thành có thể trọng thay đổi trong khoảng 1,1kg đến 115kg, vì thế việc ước tính nhu cầu năng lượng dựa theo sự trao đổi trong mô sẽ tốt hơn là dựa vào trọng lượng của cơ thể. Ước lượng đáng tin cậy nhất của nhu cầu năng lượng trao đổi (ME), người ta thường dựa vào công thức sau (theo Kelly và Wills, 1996):

ME (kcal/ngày) = 110W0,75

Trong đó W là trọng lượng cơ thể của chó đo bằng kilogram

Và W0,75 là sự trao đổi chất theo độ lớn cơ thể của chó.

Với những chó hoạt động nhiều thì có thể gia tăng tới 125 W0,75

Do độ lớn cơ thể và mức độ hoạt động khác nhau giữa các giống chó, nên có thể cho chó ăn một ngày một buổi, hoặc 2 đến 3 buổi đều được. Thức ăn đồ hộp, thức ăn khô hoặc thức ăn nửa ướt đều phù hợp cho chó trưởng thành. Nhưng tốt nhất là nên thường xuyên đánh giá sức khỏe và diều kiện cơ thể, điều này sẽ giúp xác định sự phù hợp của thức ăn.

Nhu cầu năng lượng của mèo

Thể trọng của mèo trưởng thành biến động từ 2,5kg đến 6,5kg. Mèo trưởng thành có nhu cầu năng lượng 70-90Kcal/kg thể trọng cơ thể/ngày tùy theo mức độ hoạt động của nó. Đặc biệt mèo có khả năng điều chỉnh, năng lượng ăn vào của chúng từ ngày này qua ngày khác, chúng sẽ điều chỉnh số lượng thức ăn ăn vào để đạt được cân bằng thích hợp.

Mèo cần nhu cầu protein duy trì trong thức ăn cao hơn chó, nó không thích ứng với thức ăn có protein thấp, đặc biệt mèo rất nhạy cảm với sự thiếu hụt amino acid, arginine và sẽ biểu lộ ảnh hưởng có hại trong 2-5 giờ ăn sau khi ăn thức ăn không có arginine. Mèo cũng có nhu cầu cao với amino acid chứa lưu huỳnh, taurine bởi vì nó không có khả năng kết hợp muối mật với glycine. Không giống như chó, mèo không thể đạt được nhu cầu taurine từ những amino acid chứa lưu huỳnh và vì thế đòi hỏi phải cấp taurine từ thức ăn. Một sự thiếu hụt taurine sẽ gây ra một sự thoái hóa võng mạc trung tâm, khá năng tái sản xuất thất bại, sự phát triển không bình thường của mèo con và làm giãn cơ tim. Taurine được tìm thấy một số lượng có ý nghĩa trên những thức ăn có nguồn gốc từ động vật.

Măc dầu mèo có enzyme cần thiết để chuyển hóa tryptophan thành niacin, nhưng do sự gia tăng hoạt động của enzyme acid picolinic decarboxylase, điều này làm sai lệch vai trò trung gian của sự chuyển hóa tryptophan thành niacin, nên sản phẩm cuối cùng đã bị thay đổi.

Không giống như chó, mèo là loài ăn thịt bắt buộc cho nên nó phải nhận đủ một số lượng mô động vật trong thức ăn. Để cung cấp chất dinh dưỡng phù hợp cho mèo, chúng ta cần lưu ý một số điểm sau đây:

  • Nhu cầu duy trì của protein cao hơn và mèo không có khả năng thích nghi với thức ăn có hàm lượng protein thấp.
  • Đặc biệt trong thức ăn đòi hỏi phải có arginine và taurine.
  • Nhu cầu về niacin cao hơn.
  • Nhu cầu về tiền vitamin A và acid arachidonic cao.

Để tính toán nhu cầu năng lượng cho mèo, người ta dựa vào công thức sau đây (theo Kelly và Wills, 1996):

ME = 70 – 90 kcal/kg thể trọng/ngày (bình thường)

Hoặc ME = 50 -70 kcal/kg thể trọng/ngày (không hoạt động)

Những chất dinh dưỡng thiết yếu khác phải được cân bằng dựa theo quan hệ năng lượng trong thức ăn. Thức ăn đồ hộp, thức ăn khô hoặc thức ăn nửa ướt đều có thể phù hợp cho mèo trưởng thành. Do mèo có khối lượng cơ thể nhỏ nên thường phù hợp cho những bửa ăn cách nhau 24 giờ, nhưng chúng cũng sẵn sàng thích nghi với cách cho ăn 2 lần một ngày. Tốt nhất là nên thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe và điều kiện cơ thể để giúp xác định sự phù hợp của thức ăn đối với mèo.

Ngoài những chất dinh dưỡng căn bản vừa nêu ở trên, chó và mèo cũng cần những vitamin và chất khoáng cho sự tăng trưởng, mang thai và nuôi con, nhu cầu của những chất dinh dưỡng được trình bày ở bảng 3.

Bảng: Nhu cầu dinh dưỡng của chó và mèo (theo Kelly và Wills, 1996)

Chất dinh dưỡngĐơn vịNhu cầu duy trìNhu cầu tăng trưởngNhu cầu sản xuất
ChóMèoChóMèoChóMèo
ProteinG162521,72821,728
Chất béoG5,595,595,59
acid linoleicG1,111,111,11
Acid arachodonicG0,020,020,02
Chất khoáng
CalciumG0,650,50,650,50,650,5
PhosphorusG0,50,50,50,50,890,8
Ca/P0,840,51,30,81,30,8
SodiumG0,070,040,080,20,080,2
PotassiumG0,50,50,50,50,50,5
MagnesiumMg38,43038,45038,450
SắtMg4108134,810
ĐồngMg0,50,50,50,50,50,5
MnMg0,510,510,51
KẽmMg545454
IodineMg0,070,10,070,10,150,1
SeleniumMg0,010,010,010,010,010,01
Vitamin
Vitamin AIU4092674092674991000
Vitamin DIU4320432050100
Vitamin EMg31,451,454,8
Vitamin KMg0,010,10,1
ThiaminMg0,10,40,10,40,10,5
RiboflavinMg0,250,320,250,320,250,5
Acid pantothenicMg1,10,41,10,41,10,4
NiacinMg1,23,21,23,21,24,5
PyridoxineMg0,120,320,120,320,120,4
Acid folic21,76421,76421,7100
Vitamin B122,71,62,71,62,72
CholineMg125200125200125200
BiotinMg0,010,010,01
Taurine – đồ hộpMg250250250
Taurin – thức ăn khôMg100100100

Dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai và cho sữa

Mục đích của thức ăn là giúp cho chó mẹ và thai phát triển trong thời gian mang thai và cho sữa trong thời gian nuôi con.

Đặc điểm của thức ăn là đầy đủ và cân đối về năng lượng và các chất dinh dưỡng khác. Cuối thời kỳ mang thai và nuôi con thức ăn phải đậm đặc, dễ tiêu hóa và ngon miệng để chó ăn được nhiều.

Nhu cầu về năng lượng ở chó mang thai và nuôi con như sau:

Mang thai Tuần 0-5           Nhu cầu duy trì

  • Tuần 5-6           Nhu cầu duy trì + 15%
  • Tuần 6-7           Nhu cầu duy trì + 30%
  • Tuần 7-8           Nhu cầu duy trì + 45%
  • Tuần 8-9           Nhu cầu duy trì + 60%

(khoảng 100-140kcal/kg thể trọng/ngày)

– Nuôi con: Thay đổi theo số lượng chó con và tuổi của chó mẹ (3-4 tuần sau khi đẻ) có thểgấp 3-4 lần nhu cầu duy trì (khoảng 240kcal/kg thể trọng/ngày).

Thành phần của những chất dinh dưỡng chính trong thức ăn của chó mang thai và nuôi con (dựa trên 400kcal năng lượng trao đổi):

  • Protein (g)                            22
  • Chất béo (g)                         5,5
  • Acid linoleic (g)                  1,1
  • Calcium (g)                         1,1
  • Phosphorus (g)                   0,9
  • Tỷ lệ Ca/P                           0,8-1,5
  • Vitamin A (IU)                   500
  • Vitamin D (IU)                   50
  • Vitamin E (mg)                  5,0

Thức ăn cho chó con và mèo con

Mục đích của thức ăn là để duy trì sự phát triển bình thường và tăng trọng tối đa của chó con. Đặc điểm của thức ăn là đầy đủ và cân đối năng lượng với các chất dinh dưỡng khác. Nhu cầu về năng lượng, protein, chất khoáng và protein phải cao hơn, thế nên thức ăn phải đậm đặc, dễ tiêu và thật ngon miệng để cho chó con ăn được nhiều.

Nhu cầu về năng lượng:

  • Lúc cai sữa: 2 x nhu cầu duy trì
  • Đạt được 40% trọng lượng của thú trưởng thành: 1,6 x nhu cầu duy trì.
  • Đạt được 80% trọng lượng của thú trưởng thành: 1,2 x nhu cầu duy trì.

Thành phần dưỡng chất trong thức ăn chó con (dựa trên 400kcal năng lượng trao đổi)

  • Protein (g)                           22
  • Chất béo (g)                        5,5
  • Acid linoleic (g)                 1,1
  • Calcium (g)                         0,65
  • Phosphorus (g)                   0,50
  • Tỷ lệ Ca/P                           1,0-1,5
  • Vitamin A (IU)                   410
  • Vitamin D (IU)                   44
  • Vitamin E (mg)                  5,0

Với chó con thức ăn đồ hộp hoặc thức ăn nửa ướt đều phù hợp. Riêng thức ăn khô thì phải trộn thêm nước hoặc sữa cho chó còn nhỏ.

Nuôi dưỡng chó già

Chó và mèo già có nhu cầu dinh dưỡng khác với thú non và nhu cầu thay đổi từ thú này đến thú khác. Giảm nhu cầu năng lượng ở tuổi già để tránh béo phệ, giảm ngon miệng thì bị giảm cân. Duy trì sự thèm ăn có thể đạt được với thức ăn chất lượng cao và cho ăn 2-3 lần một ngày. Tuổi cao thường liên quan tới bệnh, điều này làm giảm ngon miệng. Giảm thức ăn ăn vào gây nên giảm vitamin và chất khoáng và khả năng hấp thu giảm.Cần lưu ý là phải cung cấp đầy đủ vitamin trong thức ăn cho chó và mèo lớn tuổi, đặc biệt là trong khi bệnh. Sự hữu dụng của những chất dinh dưỡng trong nguyên liệu thô đặc biệt quan trọng với thú già. Nhu cầu thức ăn phải thay đổi theo tiến trình của tuổi già.

Nuôi dưỡng những chó mèo giảm cân

  • Thức ăn phải cung cấp đủ năng lượng và protein.
  • Thức ăn phải cân đối năng lượng và những chất dinh dưỡng khác, ngon miệng và dễ tiêu.

Nuôi dưỡng chó mèo bệnh tim mạch

  • Tránh hàm lượng muối cao trong thức ăn (vượt quá 1% hàm lượng muối trên vật chất khô). Thức ăn chỉ chứa ít hơn 0,5% muối trên vật chất khô để giúp làm giảm khả năng giữ nước.
  • Thức ăn chó có dấu hiệu lâm sàng về bệnh tim: kiểm soát hàm lượng muối dưới 0,1% vật chất khô. Năng lượng cao. Kiểm soát hàm lượng protein bởi vì có khả năng xảy ra đồng thời làm suy yếu chức năng của thận và gan. Và làm gia tăng sự đền bù hàm lượng vitamin hòa tan trong nước bị mất đi do thận lọc không hiệu quả hoặc do điều trị với thuốc lợi tiểu.
  • Phải quan tâm đến khả năng thiếu hụt carnitine hoặc vitamin B1, vì thế trong thức ăn phải chứa đầy đủ vitamin B1 và carnitine bằng cách cung cấp L-carnitine với liều 50-100mg/kg thể trọng 3 lần mỗi ngày.Quan tâm đến vấn đề thiếu hụt taurine. Với mèo cung cấp với liều 250-500mg/ngày.

Thức ăn cho thú bị bệnh thận

  • Kiểm soát hàm lượng protein (dưới 25% trên căn bản vật chất khô đối với chó và dưới 35% đối với mèo).
  • Kiểm soát hàm lượng phosphorus (dưới 0,5% vật chất khô đối với mèo và chó).
  • Giảm hàm lượng sodium.
  • Mật độ năng lượng cao.
  • Cung cấp bù những vitamin hòa tan trong nước, ítnhất gấp đôi nhu cầu bình thường.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Bản đồ