Chó – Thông tin về nguồn gốc, lịch sử, phân loại, đặc điểm sinh học

Chó đã gắn bó với đời sống nhân loại từ cách đây hàng vạn năm. Qua bài viết này, Dogily Petshop sẽ chia sẻ với các bạn các thông tin thú vị về loài chó. Từ nguồn gốc, lịch sử, phân loại các nhóm chó. Cũng như đặc điểm sinh học, những sự kiện liên quan đến cún cưng. Mời các bạn cùng đón đọc nhé.

LỊCH SỬ VÀ SỰ TIẾN HÓA

NGUỒN GỐC

Những nhà sinh vật học dã tranh luận về lịch sử và sự tiến hóa của chó nhà hàng trăm năm qua. Hiện nay, phần lớn các nhà khoa học đồng ý rằng chó có nguồn gốc trực tiếp từ loài Canis Lupus – một loài chó sói xám do Tiến sĩ Robert K. Wayne, một nhà sinh vật học và di truyền học phân tử đã chứng minh bằng việc nghiên cứu DNA. Song trên thực tế, đây chỉ là việc tái phân loại từ loài Canis Familiaris sang loài Canis Lupus vào năm 1993, bởi vì trước đây, trong quyển “Những loài động vật có vú trên thế giới”, chính vị Tiến sĩ này đã nhận định chó có liên quan mật thiết đến loài sói xám Canis Familiaris.

Chúng ta sẽ không bao giờ hiết tại sao và làm thế nào con người đã thuần hóa được chó sói. Nhưng sự tồn tại của chó có niên đại từ 10 đến 15 ngàn năm trước đây đã được tìm thấy, do đó ít nhất chúng ta cũng có được những hình ảnh và mẫu vật để xây dựng bức tranh về lịch sử và sự tiến hóa của chó. Nói cách khác, những dấu hiệu có thể chứng minh được mối quan hệ gỉữa con người và chó sói đã diễn ra khoảng 15.000 năm trước dây.

Con người đã sử dụng chó sói trong việc săn thú, chăn gia súc và chống lại kẻ thù. Chó sói là một động vật rất có tính xã hội. Giống như con người, chúng sống thành bầy với những vị trí xã hội nhất định, trong đó có vài con khẳng định được tư cách lãnh đạo. Điều này giúp chúng phù hợp và hấp dẫn trong vai trò bầu bạn, vì chó sói chấp nhận con người lãnh đạo chúng.

Trong thời đồ đá, con người bắt đầu nhận thấy chó là tài sản. Số lượng chó bắt đầu tăng lên đáng kể. Chó được gây giống để có kích cỡ, chiều dài, màu lông, gương mặt và hành vi theo mong muốn của người nuôi. Và điều này vẫn diễn ra hiện nay. Vì thế, chúng ta cần biết thế nào là chó thời hiện đại.

Ngày nay, chó có nhiều loại hình thể và kích cỡ. Có trên 400 giống chó hiện nay. Tất cả đều liên quan đến một loài chung, điều này có nghĩa là những giống chó có thể được lai giống và vẫn có con sinh sản được. Tất cả những giống chó đều do con người gây giống. Điều này có nghĩa, chúng ta quyết định cho giống nào giao phối với giống nào để sinh ra loại chó có những đặc điểm đúng như ý muốn. Con người đóng vai trò Thượng đế, họ có thể tạo ra một con chó có “cái đầu nhỏ một chút, chân ngắn hơn và đôi tai mềm duyên dáng hơn”, tất cả đều có thể thực hiện được.

LỊCH SỬ

Lịch sử của chó nhà bắt đầu cách đây 20.000 năm qua, khi con người Thời đồ đá lần đầu tiên sử dụng chó trong việc sãn bắn. Từ 7.000 đến 9.000 năm trước đây thú nuôi đã được thuần hóa và chó là một phần quan trọng trong việc chăn và bảo vệ chúng.

Người ta phát hiện ra hài cốt của năm loại chó khác nhau đã từng sống trong Thời đồ đồng (khoảng 4.500 năm trước Công nguyên) — đó là giống chó lớn tai cụp (mastiff), chó dạng sói, chó chỉ điểm, chó săn thỏ và chó chăn cừu. Ngoài ra, những hình vẽ trong hang động cũng cho thấy chó đang làm việc bên cạnh những người thợ săn.

Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã sử dung chó trong việc bảo vệ. Năm chục con chó đã từng bảo vệ pháo đài Corinth khi có những cuộc tấn công vào thành phố. Cuối cùng, chỉ còn một con chó sống sót đã được nuôi dưỡng và cho đeo vòng cổ bằng bạc.

Người Hy Lạp còn sử dụng chó trong việc săn bắn và họ thích sử dụng chó Celtic làm nhiệm vụ này hơn. Những thầy thuốc đã sử dụng chó để xác định một người đã thật sự chết hay chỉ bị hôn mê mà thôi – cái đuôi chó ve vẩy cho biết là người đó còn sống, còn khi đuôi không cử động có nghĩa là người đó đã chết. Năm 350 trước Công nguyên, Aristotle đã lập ra một danh sách các giống chó được biết vào thời đó, và một vài giống chó trong danh sách này đã gây ra tranh cãi trong giới khoa học.

Người La Mã cổ đại đã đi khắp nơi ở châu Âu trong cuộc viễn chinh, xâm chiếm thuộc địa của họ, và họ đã mang những con chó đi theo. Những con chó này đã giao phối với chó địa phương, tạo ra nhiều loại chó lai khắp châu Âu. Việc nuôi dưỡng, gây giống và huấn luyện chó là một vấn đề quan trọng, bởi vì điều này sẽ dẫn kết quả thành công nhiều hay ít trong việc săn thú, tất cả tùy thuộc vào kỹ năng của từng con chó. Ở những nơi khác, việc chăn gia súc hay bảo vệ lại có giá trị hơn, và chó được gây giống có chọn lọc, mục đích nhằm nâng cao kỹ năng thực thi những nhiệm vụ khác nhau của chó.

Vào thế kỷ thứ 4, những đoàn quân xâm lược đã đưa một số giống chó châu Á đến châu Âu và có thể những giống này đã góp phần tạo ra các đặc điểm của giống chó lông xoăn được tìm thấy trong nhiều giống chó châu Âu. Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, việc gây giống và nuôi chó ít quan trọng hơn so với cái ăn miếng uống và chiến tranh. Những bầy chó bị bỏ rơi đã tập trung lại, gây khiếp đảm cho cư dân trong thành phố và làng mạc vào thời Trung cổ. Những nông dân vô học, bị xâm lược, tỏ ra rất hoảng sợ, họ trút mọi tội lỗi lên đầu chó, cho rằng chúng chính là điềm gỡ, tạo ra những sự kinh hoàng xung quanh họ và sự mê tín về chó xuất hiện – những loài ma sói, quái vật với răng nanh và đôi môi lở loét và nhiều sinh vật quái đản khác đã hình thành dựa trên loài chó.

Điều gì đã giữ cho chó còn kỹ năng săn mồi, và tầng lớp quí tộc phong kiến đã bắt đầu khôi phục lại những giống chó bị mai một. Giới tu sĩ nhận thấy rằng việc gây giống chó là một nguồn thu nhập tốt, và họ đã tìm cách sáng tạo ra những giống chó để bán cho tầng lớp thượng lưu giàu có. Từ những giống này đã hình thành ra những giống chó săn Pháp, đáng kể nhất là giống Bloodhound. Từ đó, những giống chó này phổ biến đến nỗi giới quí tộc đã mang chúng theo khi họ đến nhà thờ. Tuy nhiên, giới tu sĩ phản đối hành động như thế, buộc những nhà quí tộc phải ngồi bên ngoài nhà thờ trong khi họ hành lễ.

Chẳng bao lâu, chó trở nên đắt tiền và việc đi săn trở thành đặc quyền của giới nhiều tiền lắm của. Những con chó được gây giống tùy tiện của tầng lớp nghèo bị buộc phải đeo những cái vòng lớn quanh cổ để ngăn ngừa việc chúng giao phôi với những giống chó cành vàng lá ngọc của giới quí tộc.

Trong cuộc Thập tự chinh, những hiệp sĩ châu Âu đã đưa những con chó của họ đến Đất Thánh, nơi mà họ đã tạo ra những giống chó khác nhau. Kết quả của việc lai tạo ấy đã cho chúng ta tổ tiên của giống chó săn và chó spaniel ngày nay. Đến thời Trung cổ việc gây giống những nét đặc trưng riêng của chó đã thật sự bị xóa bỏ. Những giống chó khác nhau bị buộc phải đi săn, bắt nhiều loại thú khác nhau như hưu, nai, linh dương gazen (gazelle) và gấu. Từ đó kích cỡ lẫn nét tiêu biểu của chúng đã thay đổi. Những nông dân già nghèo khổ không được phép đi săn, nhưng họ đánh giá cao những con chó nhỏ, hung dữ nên sử dụng chúng trong việc săn và giết khá nhiều chuột.

Thời Phục Hưng cho thấy sự chọn lọc tinh tế hơn về các giống chó. Tầng lớp thương gia dư thừa cả tiền bạc lẫn thời gian và chó được gây giống hoàn toàn cho mục đích làm bạn và điều này càng ngày càng trở nên phổ biến.

Chó săn được phát triển hơn và là nền tảng cho giống chó “griffon” và “braque” được củng cố ở Pháp ngày nay. Những quân vương giàu sang ở châu Âu càng tỏ ra say mê các giống chó cụ thể nào đó – vua Charles của nước Anh có những con chó spaniel, còn Charles IX của nước Pháp thì công khai tổ chức ngày tang lễ long srọng khi con chó thuộc giống Griffon của ông….”băng hà”! Những người trong hoàng gia xem chó là món quà, họ đã tặng chúng cho những nhà cai trị khác. Do đó huyết thống của các giống chó trở nên pha tạp và phát triển trên những vùng miền khác nhau tại châu Âu. Thế là nhiều giống chó mới ra đời.

Một lần nữa những giống chó “đặc biệt” lại gặp khó khăn sau Cuộc Cách mạng Pháp. Những người chủ thuộc dòng dõi quí tộc của chúng đã “suy tàn” theo chế độ và nhiều con chó trở nên vô chủ, nhiều giống cũng tàn lụn dần sau đó. Cho dù hiện nay những người nông dân vẫn còn đi săn, nhưng nhu cầu của họ khác nhau và do đó những giống chó khác nhau đã xuất hiện. Hiện nay, chó săn khá phổ biến và do sự lai tạo giữa giống greyhound và giống braque, một quần thể đa dạng loại chó chỉ điểm đã được phát triển.

Trong thế kỷ 19, nhiều giống chó mới đã được tạo ra. Điều này dẫn tới việc người ta tái tạo những giống chó tuyệt chủng và đòi hỏi đặc điểm về giông rõ ràng hơn, nhất là đối với loại chó làm việc. Một lẫn nữa, những giống chó được chọn lọc thực hiện nhiệm vụ săn mồi, bắt chuột, săn thỏ, tha mồi và cả làm bạn với con người. Năm 1859, trước lễ Giáng sinh vài tuần, lần đầu tiên người ta tổ chức triển lãm chó và đây là bước khởi đầu cho những thành công kê tiêp, những giông chó phổ biến nhất dược bảo hiểm.

Giới sành diệu tỏ ra thích thú trước những giống chó nhỏ. Việc du lịch bằng máy bay đến những vùng biệt lập trước đây ngày càng dễ dàng hơn và những giống chó từ các vùng này như chó Tây Tạng càng được nhiều người biết hơn. Tuy nhiên, vẫn còn những giống chó địa phương chưa được biết đến bên ngoài quê hương của chúng. Có những giống chó mà công việc của chúng không còn giá trị lâu dài hơn khi sự cơ khí hóa phát triển. Và nhiều giống trong số này phải đương đầu với sự tuyệt chủng.

Bất kỳ giống nào, dù thuần chủng hay lai, chó vẫn giữ vị trí đặc biệt trong tâm hồn con người và sự quan trọng của chúng trong cuộc sống của chúng ta ngàỵ nay vẫn còn tiếp diễn.

NHỮNG CỘT MỐC LIÊN QUAN ĐẾN CHÓ

  • 1 triệu năm trước Công nguyên: chó sói xám là nhóm chó nhiều nhất thế giới.
  • 100 ngàn năm trước Công nguyên: chó sói xám và những loài tương cận phân bố trải dài qua châu Á, Trung Đông, châu Âu và châu Mỹ. Con người bắt đầu tuyển chọn chó sói con làm vật cưng trong trang trại.
  • 20.000 năm trước Công nguyên: vào Thời đồ đá, con người gây giống chó theo mục đích riêng của họ. Bằng chứng cổ xưa nhất là một quai hàm cách đây 14.000 năm vẫn còn những chiếc răng có hình dạng răng của chó ngày nay đã được tìm thấy ở Irắc.
  • 7.000 năm trước Công nguyên: người Ai Cập dã phát triển chó từ khu vực của họ.
  • 4.500 năm trước Công nguyên: thời kỳ người ta phát hiện những mẫu chó hóa thạch thuộc giống chó chỉ điểm giống mastiff, greyhound, shepherd và chó sói giống như chó spitzt
  • 3.500 năm trước Công nguyên: những loại chó cơ bản dã đến châu Âu.
  • 3.000 trước Công nguyên: những mẫu bộ xương của chó chỉ điểm (pointer) được nhận thấy trong những cuộc triển lãm ở nước Anh, chứng minh các đặc điểm của giống chó greyhound và mastiff. Những loại chó săn hiện đại tiến hóa từ những nguyên mẫu này gọi là .“Canis familiaris intercnedius”.
  • 2.000 năm trước Công nguyên: khi Thời đồ đá mới kết thúc, phần lớn những giống chó cơ bản đã được xác lập.
  • Năm 23 – 79 sau khỉ chúa Giê Su ra đời: Pliny (người La Mã) đã viết về những tay thợ săn mang theo chó trong những chuyến đi săn. Cái mũi của chó phát hiện ra con mồi trốn dưới đất, giúp cho họ bắt được con mồi.
  • Năm 100 – 1500: mặc dù còn vài giông chó ở vùng nào đó, tuy nhiên nhiều giống đã phân bố rải rác khắp thế giới với số lượng lên đến hàng ngàn con trong một giống.
  • Năm 1800 – 1900: việc phân loại những giống chó riêng biệt và sự chọn lọc giống đã phát triển nhanh trong các câu lạc bộ nuôi chó. Ngoài ra, người ta có được sự hiểu biết trong việc nuôi và gây giống chó một cách khoa học.

CÁC NHÓM CHÓ

NHÓM CHÓ CẢNH

Kích cỡ gọn nhẹ, biểu lộ sự vui vẻ, ngoại hình đẹp là những đặc điểm chính của nhóm chó này. Đừng để ngoại hình nhỏ xíu của chúng đánh lừa bạn, bởi vì có nhiều giống khá “thô bạo” hoặc tiếng sủa nghe khá lạ tai. Do đó, trước khi rước về nhà một chú chó cảnh nào, ban cần biết đăc điểm của giống chó đó.

Người thành thị và người không có nhà rộng thường chuộng nuôi chó cảnh, bởi vì loại chó này rất thích hợp với cuộc sông trong căn hộ, không cần nhiều không gian vận động. Mặt khác, chúng là những vật “làm ấm” trong những đêm trời lạnh giá.

Không phải bất kỳ giống chó nhỏ nhắn nào cũng là chó cảnh. Bạn có thể tìm thấy trong những nhóm khác có những giống chó khá nhỏ con.

Nhóm này gồm có:

AffenpinscherManchester Terrier
Brussels GriffonMiniature Pinscher
Cavalier KingPapillon
Charles SpanielPekingese
ChihuahuaPomeranian
Chinese CrestedPoodle
English Toy SpanielPug
HavaneseShih Tzu
Italian GreyhoundSilky Tenier
Japanese ChinToy Fox Terrier
MalteseYorkshire Terrier

NHÓM CHÓ SĂN

Phần lớn các giống chó săn đều có đặc điểm chung do tổ tiên truyền lại là săn mồi. Một vài giống sử dụng khứu giác nhạy bén dể tìm dấu vết của con mồi. Những giống khác chứng tỏ thể lực ổn định phi thường khi rượt đuổi liên tục khiến con mồi phải kiệt sức. Tuy nhiên, nếu không kể đến đặc điểm trên thì trong tương lai, việc khái quát về nhóm chó săn không hề đơn giản, kể từ khi nhóm này kết nạp thêm khá nhiều giống khác nhau. Thí dụ như giống chó săn Pharaoh, Elkhound Na Uy, Afghan và Beagle. Vài giống có khả năng đặc thù khi sủa, phát ra âm thanh có một không hai. Do đó, trước khi quyết định chọn nuôi giống chó săn nào bạn cần biết trước tiếng sủa của chúng để chắc chắn rằng chứng mang đến niềm vui cho bạn chứ không phải là sự khó chịu.

Dưới dây là danh sách những giống chó săn:

Afghan Hound
American FoxhoundHarrier
BasenjiIbizan Hound
Basset HoundIrish Wolfhound
BeagleNonvegian Elkhound
Black and Tan CoonhoundOtterhound
BloođhoundPetit Basset
BorzoiGriffon Vendéen
DachshundPharaoh Hound
English FoxhoundRhodesian Ridgeback
GreyhoundSaluki
Scottish DeerhoundWhippet

NHÓM CHÓ SỤC (TERRIER)

Đặc điểm của những giống chó sục rất dễ phân biệt nên mọi người đều biết rõ về chúng. Đây là loại chó mạnh mẽ và nóng tính. Kích cỡ của chúng thay đổi tùy theo giống. Từ những giống khá nhỏ như Norfolk, Cairn hay West Highland White Terrier, cho tới loại to lớn như Airedale Terrier.

Nhìn chung, chó sục có sức chịu đựng kém so với những giống chó khác. Tổ tiên của chúng được gây giống và nuôi dưỡng để săn mồi và giết các loài dịch hại cho mùa màng và gia súc. Tuy nhiên, ngày nay, chó sục là thú cưng khá hấp dẫn, song người nuôi cần biết đặc điểm của từng giống trước khi đem về nuôi.

Những giống chó sục gồm có:

Airedale TerrierMiniature Schnauzer
AmericanNorfolk Terrier
Staffordshire TerrierNorwich Terrier Parson
Australian TerrierRussell Terrier
Bedlington TerrierScottish Terrier
Border TerrierSealyham Terrier
Bull TerrierSkye Teirier
Cairn TerrierSmooth Fox Terrier
DandieSoft Coated
Dinmont TerrierWheaten Terrier
Glen of Imaal TerrierStaffordshire
Irish TerrierBull Terrier
Kerry Blue TerrierWelsh Terrier
Lakeland TerrierWest Highland
Manchester TerrierWhite Terrier
MiniatureBull Terrier
Wire Fox Terrier

 NHÓM CHÓ THỂ THAO

Đây là loại chó nhanh nhẹn, nãng động, đáng yêu và làm bạn tốt. Những giống trong nhóm này gồm cồ chó sãn chỉ điểm, chó tha mồi, chó săn lông xù (setter) và chó spaniel. Chúng hoạt động rất tốt dưới nước và trong rừng cây. Nhiều giống vẫn duy trì khả năng săn mồi và tham gia những hoạt động khác trên đồng cỏ. Nếu nuôi chó thể thao bạn cần cho chúng tập luyện thể chất hàng ngày để duy trì sức khỏe và sinh lực.

Dưới đây là những giống trong nhóm chó thể thao:

American Water SpanielGolden Retriever
BrittanyGordon Setter
ChesapeakeIrish Setter
Bay RetrieverIrish Water Spaniel
Clumber SpanielLabrador Retriever
Cocker spanielNova Scotia Duck
Curly-Coated RetrieverTolling Retriever
English Cocker SpanielPointer
English SetterSpinone Italiano
English Springer SpanielSussex Spaniel
Field SpanielVizsla
Flat-Coated RetrieverWeimaraner
German Shorthaired PointerWelsh Springer Spaniel
German Wirehaired PointerWirehaired Pointing Griffon

NHÓM CHÓ KHÔNG THỂ THAO

Nhóm này gồm nhiều giống chó khác nhau. Có một số giống khỏe: mạnh với cá tính và ngoại hình khác nhau như giống Chow Chow, Dalmatian, Bulldog Pháp và Keeshond. Sự khác biệt thể hiện qua kích cỡ, bộ lông và gương mặt. Một vài giống, như Schipperke và Spaniel Tây Tạng, có thị lực đặc biệt so với những giống khác trong nhóm này. Còn những giống như Poodle và Lhasa Apso lại có dân số khá lớn trong nhóm.

Nhìn chung, những giioosng trong nhóm chó không thể thao cho thấy tính đa dạng về kích cỡ, bộ lông, tính cách và ngoại hình.

Dưới đây là danh sách những giống chó không thể thao:

American Eskimo DogKeeshond
Bichon FriseLhasa Apso
Boston TerrierLưwchen
BulldogPoodle
Chinese Shar-PeiSchipperke
Chow ChowShiba Inu
DalmatianTibetan Spaniel
Finnish spitzTibetan Terrier
French Bulldog

 NHÓM CHÓ LÀM VIỆC

Người ta nuôi những giống chó này nhằm mục đích sử dụng chúng trong việc bảo vệ tài sản, kéo xe trượt tuyết và cứu hộ dưới nước. Chúng là vật    báu vô giá đối với con người qua mọi thời đại.

Nhìn chung, chó làm việc thông minh, học nhanh, có khả năng làm bạn tốt. Chúng có ngoại hình to lớn, sức chịu đựng dẻo dai, tuy nhiên nhiều giống không thích hợp để làm thú cưng trong những gia đình có không gian trung bình.

Những giống chó làm việc gồm có:

AkitaGreater Swiss
Alaskan MalamuteMountain Dog
AnatolianKomondor
Shepherd DogKuvasz
BerneseMastiff
Mountain DogNeapolitan Mastiff
Black Russian TerrierNewfoundland
BoxerPortuguese
BullmastiffWater Dog
Doberman PinscherRottweiler
German PinscherSaint Bernard
Giant SchnauzerSamoyed
Great DaneSiberian Husky
Great PyreneesStandard Schnauzer

NHÓM CHÓ CHĂN GIA SÚC

Năm 1983 người ta tách nhóm chó chăn gia súc khỏi nhóm chó làm việc. Nói cách khác, những giống thuộc nhóm này đều là chó làm việc trước đây. Tất cả đều có khả năng kỳ diệu là kiểm soát được sự di chuyển của bầy gia súc, đặc biệt là giống Corgi, chúng có thể chăn dắt đàn bò có kích cỡ to hớn chúng gấp nhiều lần. Trên đồng cỏ chúng chỉ huy đàn bò bằng những cú đá gót đầy uy lực.

Phần lớn chó chăn gia súc hiện nay là thú cưng trong gia đình, không còn cảnh phải dầm mưa dải nắng ngoài đồng cỏ.  Tuy nhiên, nhiêu giông vẫn còn bản năng chăn dắt, do đó chúng thích sống thành bầy.

Nhìn chung, những giống chó này thông minh, dễ huấn luyện và là chó bầu bạn xuất sắc.

Những giống chó chăn gia súc gồm có:

Australian Cattle DogGerman
Australian ShepherdShepherd Dog
Bearded CollieOld English
Belgian MalinoisSheepdog
Belgian SheepdogPembroke
Belgian TervurenWelsh Corgi
Border ColliePolish Lowland
Bouvier des FlandresSheepdog
BriardPuli
Canaan DogShetland Sheepdog
CardiganWelsh Corgi
Collie

NHÓM PHA TẠP

Hiện nay trên thế giới có hàng trăm giống chó thuần chủng, được nhiều tổ chức công nhận. Tuy nhiên, cũng có một số giống chó được tổ chức này công nhận là chó thuần chủng, được xếp vào một nhóm chó nào đó, song tổ chức khác lại không thừa nhận, do đó chúng tôi tạm gọi là nhóm pha tạp, không liệt kê danh sách cụ thể.

SINH HỌC CỦA CHÓ

BộCarnivora
HọCanidae
GiốngCanis
LoàiFamiliaris
Kích cỡThay đổi tùy theo giống
Trọng lượngThay đổi tùy theo giống
Thân nhiệt38°C-39°C
Nhịp tim70-130 nhip/phút (chó con và chó nhỏ hơn có nhip tim cao hơn nhip trung bình của chó lớn)
Tốc độ nhịp thở10-30 nhịp/phút
Ngón chân trước4
Ngón chân sau4
Chó trưởng thành hấp thu thức ănThay đổi tùy theo giống
Chó trưởng thành hấp thu nướcThay đổi tùy theo giống
Nhiễm sắc thể78
Thời kỳ thai nghénTrung bình 60-67 ngày
Tuổi thọThay đổi tùy theo giống, nhưng nhìn chung khoảng 8-15 năm

CƠ THỂ CỦA CHÓ

Chó tăng trưởng với những kích cỡ khác nhau. Thí dụ, chó wolfhound Ai-len, đứng cao khoảng 81, 28 cm (tính đến u vai hoặc phần trên của vai), trong khi đó, chó chihuahua lúc đứng chỉ cao khoảng 12,7 cm.

Màu của bộ lông cũng khá đa dạng, thậm chí trong một giống. Một vài giống lông đen tuyền, Những giống khác lại hoàn toàn trắng. Một vài giống có đốm nhạt ở chỗ này cùa cơ thể nhưng lại có màu sậm hơn ở nơi khác. Hoặc chúng có thể có màu thuần nhất nào đó chứ không phải màu đen.

Hình dáng của chó được xác định bởi ba cấu trúc chính là đầu, thân và chân. Kích cỡ và hình thức của những cấu trúc này thay đổi khá lớn cũng như màu sắc và đặc điểm của lông.

ĐẦU

Có hai hình dạng đâu cơ bản – hộp so hẹp với gương mặt dài và hộp sọ rộng với gương mặt ngắn. Ngoài ra còn có một số hình dạng đầu trung gian giữa hai loại này.

Chó có gương mặt dài, như chó bẹcgiê Đức (German shepherd) và cocker spaniel, có thể có quai hàm dài 20,32 cm. Ngược lại, mũi của chó có gương mặt ngắn, như chó Pekingese và pug, có thể ngắn hơn 2,54 cm tính từ mắt.

Chó có tổng cộng 42 cái răng. 6 cặp răng cửa sắc bén nằm ở trước miệng, bên hông là hai cặp răng nanh lớn. Những cái răng khác là răng tiền hàm và răng hàm. Răng cửa và răng nanh rất quan trọng, vì chó sử dụng những cái răng này trong việc cắn và xé thức ăn.

Không khí đi vào mũi chó rồi đến phổi bằng cách xuyên qua 2 khoang nằm ở phía sau mũi. Những khoang này nhăn nheo với một màng nhầy chứa nhiều đầu dây thần kinh dễ bị kích thích bởi mùi.

Chó liên tục ngửi không khí, mặt đất và những đồ vật chung quanh để nhận biết điêu gì đang xay ra. Khe lom ơ giữa trán (phía trên mắt) của chó gọi là “stop”. Khe này ồ một vài giống chó sâu hơn so với những giống khác.

Cái lưỡi khá mỏng của chó được sử dụng chủ yếu là đưa thức ăn xuống cổ họng, liếm sạch lông và Ịàm toát ra mô hôi. Khi chó nóng bức, nó làm giảm nhiệt bằng cách thè lưỡi ra ngoài và thở hổn hển. Khi chó thỗ như thế, sự bốc hơi của mồ hôi từ lưỡi sẽ làm mát cơ thể nó. Chó còn tiết mồ hôi từ gan bàn chân và một ít (không đáng kể) từ da của của nó. .

Đôi tai chó dựng lên hoặc rũ xuống. Những con chó cổ xưa nhất có khả năng đôi tai dựng đứng, còn những giông chó sau dó có đôi tai bắt đầu rũ xuống đôi chút vì da tai dư thừa. Chó có khứu giác rất thinh. Chúng có thể nghe âm thanh ở tần số rất cao so với tai người. Điều này cho thấy tại sao chúng có thể phản ứng trước những tiếng sáo “im lặng” (tức ở tần số siêu âm).

Mỗi mắt chó có ba mi mắt, mỉ ở trên là chính, mi thứ hai ở dưới và mi thứ ba ẩn trong góc mắt. Mỉ thứ ba có thể quét từ bên này sang bên kia giác mạc trong suốt của mắt và làm sạch giác mạc giống như một cần gạt nước của xe hơi.

Đầu và thân chó nối kết với nhau bằng cổ. Cổ có thể dài hoặc ngắn, tùy theo kích cỡ của 7 cái xương chống đỡ nó. Chiều dài của dây thanh quản trong cổ là một nhân tố tác động âm vực và tính chất lớn nhỏ của âm thanh của chó – tiếng sủa, gầm gừ, và tru

THÂN

Thân chó bao gồm hầu hết các cơ quan quan trọng của chó. Tim, phổi, dạ dày và ruột đều nằm trong thân. Ngoài ra còn có bộ phận sinh dục, cật và bong bóng. 13 cái xương sườn (ngực) bọc quanh tim và phổi. Kể từ khi tim và phổi tác động đến tốc độ và sức chịu đựng thì kích cỡ của ngực có thể là sự biểu lộ của hai đặc điểm này.

Chó có 27 xương từ hộp sọ đến chỗ góc đuôi (nơi đuôi bắt đầu). Tùy theo số lượng xương đuôi mà chó có chiều dài đuôi thay đổi từ giống này sang giống khác.

Thân có thể được phủ bằng lông thẳng hoặc lông xoăn. Các cọng lông hiện ra từ những nang nhỏ xíu trong da. Những cọng lông này liên kết với bắp thịt để tạo ra sự dựng đứng lông khi chó co rúm thân. Trong những lúc căng thẳng, chó làm lông dựng lên- phần lông dọc theo cổ và xương sống. Những cái lông cảm giác đặc biệt gọi là “râu” nằm gần mũi, nhưng sự hữu ích của chúng rất đáng nghi ngờ vì chó hiếm khi dựa vào xúc giác.

CHÂN

Chó có hai chân trước và hai chân sau. Chúng sử dụng chân để di chuyển, gãi và đào bới. Mỗi chân trước nối với thân bằng một xương bả vai dài, hẹp.

Bàn chân có 5 ngón. Một trong số này gọi là cựa móng huyền (nằm khá cao so với những móng còn lại). Cựa này là một bộ phận còn sót lại từ tể tiên của chó. Ngày nay, đối với chó con, người ta thường giải phẫu loại bỏ cựa này.

Những ngón chân gồm có một số xương. Móng chân hay “vuốt” hiện ra từ đầu ngón chân. Dưới bàn chân có miếng đệm và mỗi móng cũng đều có miếng đệm. Chó tiêt mồ hôi từ những miếng đệm này.

Mỗi chân sau nối với thân ở chỗ xương chậu. Phần trên của xương đùi gắn vào một hôc trong xương chậu đê tạo thành khớp háng.

HÀNH VI CỦA CHÓ

Chó là động vật sông bầy đàn. Chó hoang dã tuân thủ tôn ti trật tự trong bầy với một con mạnh mẽ lãnh đạo bầy, được cả bầy chấp nhận. Chó sử dụng âm thanh và ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp. Dưới đây là những cách cơ bản chó sử dụng ngôn ngữ cơ thể để phơi bày cảm xúc, tâm trạng:

Vui vẻ và bị kích động

Một con chó đang vui sẽ có đôi tai ngẫng lên phía trước, miệng thư giãn và đuôi ve vẩy. Nếu bị kích động chó có thể nhảy lên, lượn tròn hoặc chạy quanh. Điều này có thể đi cùng với tiếng sủa hoặc tiếng gầm gừ.

Gây hấn

Khi gây hân, chó cụp tai về phía sau, nằm gần sát đầu; đôi mắt khép hẹp lại, cho thấy cái nhìn thách thức. Miệng có thể mở hoặc co rúm lại, răng nhe ra và có thể táp cách cách hai quai hàm. Điều này thường đi chung với tiếng gầm gừ hay sủa lớn. Cơ thể căng ra, đuôi duỗi thẳng ra khỏi thân, còn đầu thì hạ xuống.

Mời gọi chơỉ đùa

Khi chó cúi xuống với hai chân trước hạ thấp, phần thân sau nhô lên và cái đuôi ve vẩy thì chúng đang mời gọi chơi đùa.

Lấn áp

Chúng đưa đuôi hướng lên hay chìa ra phía trước và nhìn chòng chọc với đôi mắt mở to. Cơ thể đưa cao lên, có khả năng ỉông dựng lên. Đuôi đuỗi thẳng hoặc đưa ra khỏi thân và chó có thể gầm gừ hay rít trong lúc miệng khép lại.

Phục tùng

Chó lăn ngửa ra, cho thấy bụng. Khi cảm thấy hài lòng, hạnh phúc nó cũng phơi bụng ra và muốn người ta xoa bụng nó.

Lo lắng và sợ hãi

Khi lo lắng hoặc sợ hãi chó sẽ cụp tai nằm gần sát đầu với đôi mắt khép hẹp. Thân hạ thấp, còn đuôi thì gập xuống giữa hai chân sau. Chó có thể run, sủa ăng ẳng, gầm gừ hoặc rên rỉ.

NHỮNG THÔNG TIN VÀ SỰ KIỆN VỀ CHÓ

SỰ KIỆN VỀ CHÓ

  • Chó nhỏ chỉ có 28 răng sữa.
  • Chó cái cắn nhiều gấp đôi chó đực.
  • Giống chó Chow Chow có lưỡi đen.
  • Thị lực của chó tốt hơn con người trong bóng tối lờ mờ.
  • Chó có tầm nhìn rộng 250°, còn con người chỉ có tầm nhìn trong phạm vi 180°.
  • Chó có thể nghe âm thanh cách xa 228,5 m, còn phần lớn con người không thể nghe xa tới 22, 85 m.
  • Chó con mới sinh không nhìn thấy, điếc và không có răng.
  • Trong tuần tuổi đầu tiên, chó con sử dụng 90% thờigianđể ngủ và 10% để bú sữa.
  • Chó con chỉ có khả năng bò trườn trong tuần tuổi đầu tiên
  • Chó con bắt đầu thấy khi nó được 2-3 tuần tuổi.
  • Trong tuần tuổi 3-7, chó con mọc răng lần đầu hoặc răng sữa sẽ xuất hiện.
  • Ở tuần tuổi thứ 3, chó con sẽ phát triển khứu giác.
  • Chó con ngủ 14 giờ mỗi ngày. .
  • Đến tháng tuổi 4-8, răng trưởng thành của chó con suất hiện, lúc ấy chúng bắt đầu nhai gặm mọi thứ!
  • Một vài con thành thục giới tính lúc 8 tháng tuổi.
  • Chó con trưởng thành thể chất bằng một người 15tuổi.

CHÓ GIÀ NHƯ THẾ NÀO?

Trước đây có giả thuyết cho rằng chó có 1 năm tuổi sẽ tương đương bằng một người 7 tuổi. Điều này đã được chứng minh là sai lầm. Thí dụ, chó có khả năng sinh sản lúc khoảng 1 năm tuổi, nhưng một đứa bé 7 tuổi thì chưa thể trưởng thành về giới tính. Hiện nay, nhiều bác sĩ thú y đã so sánh tuổi chó với tuổi người và điều này xem ra thực tế hơn. Dưới đây là bảng so sánh:

Tuổi chóTuổi người
5 tháng=10 năm
8 tháng=13 năm
10 tháng=14 năm
1 năm=15 năm
2 năm=24 năm
3 năm=28 năm
4 năm=32 năm
5 năm=36 năm
6 năm=40 năm
7 năm=44 năm
8 năm=48 năm
9 năm=52 năm
10 năm=56 năm
11 năm=60 năm
12 năm=64 năm
13 năm=68 năm
14 năm=72 năm
15 năm=76 năm
16 năm=80 năm
17 năm=84 năm
18 năm=88 năm
19 năm=89 năm
20 năm=93 năm
21 năm=96 năm
22 năm=99 năm
23 năm=103 năm
24 năm=106 năm

NHỮNG ĐIỀU THÚ V|

  • Greyhound là giống chó nhanh nhất thế giới. Chúng có thể chạy 45 dặm/giờ trong thời gian ngắn.
  • Wolfhound là giống chó lớn nhất.
  • Great Dane là giống chó cao nhất.
  • Chihuahua là giống chó nhỏ nhất.
  • St. Bernard là giống chó nặng nhất.
  • Con chó già nhất thế giới tên là Bluey (chó chăn gia súc ở nước Australia), thọ 29 năm và 5 tháng.

NHỮNG SỰ KIỆN ĐÁNG KINH NGẠC LIÊN QUAN TỚI CHÓ

  • Bãi biển Barking Sands, ở hòn đảo Kauai (Hawaii), là nơi có cát khô lạ thường, phát ra âm thanh “giống như tiếng chó sủa”.
  • Hai con chó sống sót trong vụ đắm tàu Titanic.
  • Giống chó Đan Mạch to lớn (Great Dane) có nguồn gốc từ nước Đức!
  • Ở đoạn kết của ca khúc “A Day in the Life”, Paul McCartney đã ghi âm tiếng sáo siêu âm, chỉ có chó mới nghe rõ, nhằm tạo niềm vui cho con chó chăn cừu (Shetland sheepdog) của ông ta.
  • Khi một con chó sủa trăng, nó đang theo bản năng gốc gọi bầy lại với nhau.
  • Chó được đề cập 14 lần trong Kinh Thánh.
  • Sóc chó (Prairie dog) không phải là chó – chúng là một loại gặm nhắm.
  • Crab là con chó duy nhất đã từng xuất hiện trong kịch của Shakespeare (vở “The Two Gentlemen of Verona”).
  • Khi mới sinh ra chó con Dalmatian hoàn toàn màu trắng rồi phát triển những đốm khi chúng lớn tuổi hơn.
  • Việc cắt ngắn lông của giống chó Poodle nhằm câi thiện khả năng bơi của chúng. Còn giống pom-pom (tức chó Pomerainan) được cắt lông nhằm giữ những khớp xương của chúng được ấm!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi ngay
Messenger
Zalo chát
Bản đồ