Cái thú “gác” Cu

Gác Cu, hay bẫy Cu, không những được coi là một thú vui bình thường, mà còn là một nỗi đam mê ít của đa số nghệ nhân nuôi chim Cu gáy xưa nay, bất kể tuổi đời của họ là già hay trẻ.

Với người ngoài nghề thì đây quả là một điều rất…khó hiểu, đến nỗi không đặt vấn đề không được! Sở dĩ thiên hạ cho đó là chuyện lạ, chuyện đáng ngạc nhiên là vì, họ thấy rằng không những chỉ có hạng trai tráng sức dài vai rộng, mà cả đến những ông già tuổi đời ngót nghét sáu bảy mươi, chân đi đã loạng choạng, nhưng hằng ngày vẫn hăng hái quảy lục vào rừng, chịu khó lội mương băng đồng để…gác Cu! Có điều giới trẻ thì chúng lặn lội đến nững vùng xa, còn các ông già thì chỉ lui tới quẩn quanh trong phạm vi gần nhà chừng năm ba cây số trở lại.

Điều khó hiểu nữa là thực tế cho thấy, giá trị con Cu gáy thời nào cũng vậy đâu có đáng là bao mà người nuôi chim Cu gáy lại có thể bỏ mặc chuyện ruộng nương, chuyện nhà, chuyện cửa để lặn lội vào rừng mà săn bắt? Đây tuy là giống chim rừng, nhưng lại được coi là giống…chim vườn, thiếu gì quanh nương rẫy! Trẻ con đứa nào bắn giàn thun giỏi, đi một buổi cũng có thể “gom” được cả chục con bổi về ăn chứ đâu có hiếm hoi gì. Thế thì tội gì người nuôi Cu lại phải cất công vào rừng từ sáng sớm cho đến tối mịt mới về, với cơm đùm cơm nắm, với quần ống thấp ống cao, mà mỗi chuyến đi cũng chỉ mang về được năm bảy con Cu bổi là cùng? Thế mà họ còn tỏ ra quí hóa, coi như không bỏ công sức vất vả lặn lội suốt cả ngày trường quên cả trăm công ngàn việc giao phó cho vợ con ở nhà định liệu…

Nhiều người phê bình những người có tính đam mê quá độ này là những người…ngu. Họ nghĩ rằng có ngu người ta mới có thể tiêu pha thời giờ và sinh lực của mình vào thú chơi…tào lao như vậy. Cái ngugác Cu là một trong bốn cái ngu của người đời như câu Ca Dao sau đây đã truyền tụng:

Ở đời có bốn cái ngu

Làm mai, lãnh nợ, gác Cu, cầm chầu.

Trước khi đề cập đến bốn “cái ngu” này của thiên hạ, ta cũng nên để tâm tìm hiểu xem tại sao những nghệ nhân nuôi chim Cu gáy lại đam mê thú gác Cu như vậy.

Tất nhiên, họ có lý do chính đáng của họ. Lý do chính đáng đó là: có đi gác Cu họ mới tìm được cho mình những con Cu gáy thật tốt mà nuôi!

Như quí vị đã biết, giống Cu gáy cũng có con khôn con dại, có con hay con dở, chứ không phải con      nào cũng tài nghề sànsàn như nhau. Đó là điều màngười trong nghề mới hay biết. Ai nuôi chim cũng muốn chọn những con tốt mà nuôi để khỏi bỏ công chăm sóc, mà chim đãgọi là tốt thì dù có tiền cũngchắc gì người ta đã chịu “buông” ra! Vì vậy, chỉ có cách tự mình chịu khó lặn lội đi gác Cu may ra mới tìm ra được những con chim tài nghệ vừa ý…

Tục ngữ mình vốn đã có những câu: “Chim khôn chưa bắt đã bay”, “Chim khôn tìm cây mà đậu”, “Chim khôn tránh lưới tránh dò”, hoặc “Chim khôn kêu tiếng rảnh rang”… Những nhận xét đó của người xưa quả thật là rất đúng. Có đích thân xách lục vào rừng gác Cu ta mới thấy rõ được điều này.

Chỉ những con Cu bổi tầm thường mới dễ dàng chui đầu vào lục, còn những con Cu hay thường khôn ngoan không dễ dàng bắt ngay được nó. Chúng không những gáy hay, gáy đủ bài bản, mà còn biết chế ngự trước sức thúc ép của con Cu mồi! Chúng cứđậu xa xa gần gần trên kèo, nhưng không dễ gì chịu sa vào lưới rập, mặc cho con Cu mồi bên trong hết sức trổ tài: nào bo, nào thúc…Nhiều khi đánh được con bổi khôn, người ta phải thay đến mấy con Cu mồi, và phải đi về lắm bận, có khi cả tháng trườngmới bắt được!

Thử hỏi những con chim khôn như vậy, có trongtay ai lại chịu bán ra? Và nếu họ bán ra thì bán vớigiá nào? Giá trị của con Cu khôn chắc chắn là hơn cả trăm lần con Cu bổi tầm thường chứ đâu phải ít! Tuy vậy, không ai nghĩ đây là món lợi về kinh tế, mà mục đích là chỉ để thỏa mãn thú chơi. Có trong tay một con chim quí, phải nói đó là một điều đáng mừng, đáng hãnh diện với bạn bè đồng nghiệp, mới thỏa chí của mình…

Bây giờ, xin trở lại chuyện “bốn cái ngu” của người đời. Ông bà xưa cho việc “Làm mai, lănh nợ, gác Cu, cầm chầu” là bốn cái ngu của người đời xưa nay:

-Làm mai: Làm mai trước đây được coi là một nghề được thiên hạ tin cậy và trọng vọng. Những ông mai bà mối này làm cái việc thay ông Tơ bà nguyệt se mối lương duyên cho trai gái được ăn đời ở kiếp với nhau. Công lao của họ thường được đền bù với chiếc đầu heo và một ít tiền bạc, hàng lụa… Nhưng việc này, ít khi được coi là “hết xôi rồi việc” được! Anhchị ăn ở với nhau nếu trong ấm ngoài êm thì không nói làm gì, ngược lại, nếu cuộc sống của họ không có hạnh phúc, vợ chồng lúc nào cũng có chuyện lục đục gấu ó với nhau như chó với mèo thì đó là lúc họ lôi ông mai bà mối ra mà xỉ vả, mà trách cứ.

Với người “sinh nghề” thì chịu cảnh “tử nghiệp” đã đành, còn có người không hành nghề mai mối nhưng lại nổi hứng đứng ra làm cái việc tác hợp cho đôi đàng, cứ tưởng đây là việc làm phúc đức, nào ngờ khi họ gặp cảnh “cơm không lành canh chẳng ngọt” cũng lôi mình ra mà trách cứ nọ kia, coi như đã vụng tay… xe lộn mối chỉ hồng cho họ vậy.

Nghề làm mai được coi như cái nghề bạc bẽo nhất, nên xưa nay chẳng mấy ai ham.

-Lãnh nợ: Thói thường hễ “có lúa mới cho mượn gạo” còn người trong tay hoàn toàn không có một tấc đất cắm dùi thì dù có kêu gào khản cổ không được ai cho mượn, dù đó chỉ là đồng xu nhỏ. Người đứng ra bảo lãnh nợ cho người khác thường bị nhiều phiền phức. Tiền vay thì người ta hưởng thụ, nhưng nếu sau này việc trả nợ có gặp sự trắc trở, như trả không đúng hạn, hoặc chỉ trả lần hồi, hay không có khả năng chi trả thì người cho vay cứ một mực nhắm vào mình mà đòi. Nếu trước đây việc bảo lãnh có văn bản đàng hoàng, thì người ký tên phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về khoản nợ đó.

Đây là chuyện “ách giữa đàng mang vào cổ” chuyện không liên can đến mình lại dại dột rước vào mình để mang họa vào thân.

– Gác Cu: Gác cu là mang lục vào rừng, vào nương vào rẫy để cố bẫy cho được những Cu khôn về nuôi. Bắt được con Cu khôn hay không chưa biết, chỉ biết một điều là người đi gác Cu phải chịu biết bao nhiêu điều khổ cực: nào là phải sửa soạn “đồ nghề” trước đó mấy ngày, rồi phải dậy sớm để lặn lội vào rừng với cơm đùm cơm nắm, trong khi phải khệ nệ tay xách tay mang nào chim mồi, nào dây nhợ, nào sào dài, nào sào ngắn…Giống Cu không thường sinh sống ở những vùng xa lơ xa lắc, lắm khi phải khổ công vượt suối băng đồng suốt cả buổi trời mới tìm được nơi gác lục.

Chuyện phải “quần vo áo vận”, rách áo tưa quần xước da chảy máu là chuyện không tài nào tránh được. Thế nhưng, những trở ngại đó, người đã đi hành nghề gác Cu đều coi là chuyện vặt vãnh chẳng ai hở môi ta thán. Họ chỉ mong sao sớm tóm được con chim đang gáy giọng đôi, giọng ba trên kia mới là chuyện đáng mừng thôi!

Tìm được chỗ treo lục xong, lại phải tìm chỗ để ngồi thu mình vào một lùm bụi kín đáo nào đó vảnh tai căng mắt ra để theo dõi mọi diễn biến kịch tính hồi hợp của buổi gác Cu. Trước hết phải kiểm tra lại coi con Cu mồi của mình trổi giọng có đủ phong độ cần thiết hay không, để nếu cần thì chính chủ chim phải kịp thời…chu mồm ra mà gù phụ.

Thường thì tất cả nghệ nhân làm nghề gác Cu có kinh nghiệm, đều có tài nhái tiếng chim của họ rất tài tình, giọng y như giọng chim mồi, đến nỗi chim bổi cũng không tài nào phát giác được giọng nào là giả, giọng nào là thật! Khổ nổi, Cu mồi trừ những con quá hay, quá dữ, nổi tiếng sát thủ cự phách thì lúc nào ra quân cũng…dư sức trăm trận trăm thắng. Còn nhiều Cu mồi khác do chưa nhiều “kinh nghiệm chiến trường” thì lắm khi chúng trở chứng phát bực! Nhiều con ở nhà thì hung hăng, nhưng khi ra rừng thì đâm nhát. Có con mới đánh được con bổi đầu, qua con sau đã “khớp”, cứ đứng ỳ ra một chỗ! Có con gù tiền hăng để dụ chim bổi lại gần, nhưng sau đó thì lơ lơ láo láo không dám đi gù hậu!

Trong trường hợp này thì chủ chim phải gù trợ lực thì may ra mới hạ được con bổi dữ bên ngoài. Chính vì vậy nên mỗi chuyến đi gác Cu, ít ai chịu mang theo một con mồi duy nhất, mà phải thường vài ba con…

Ngồi gác Cu là ngồi thu mình vào một chỗ kín đáo, cố không gây một tiếng động khẽ, cho nên không dám cục cựa nhút nhích, mặc dầu đang đạp lên ổ kiến lửa nó đốt dưới chân, muốn ho cũng ngậm miệng, đang đói khát cũng đành chịu nhịn, vì rằng lỡ gây ra tiếng động, con chim bổi tên cây sẽ thính tai thính mắt phát giác ra liền…

Như trên chúng tôi đã trình bày, với con Cu khôn ta không dễ gì bắt ngay được nó. Có khi ta phải đến năm lần bảy lượt, có khi phải trần thân vất vả suốt cả tháng trường mới được toại ý sở cầu!

Bẫy được con chim khôn mà phải bỏ biết bao là công sức, đó là chưa kể những tốn hao quá lớn, như mọi công việc lớn nhỏ trong nhà đành phải gác bỏ lại một bên. Biết làm sao hơn khi nỗi đam mê đã như một ma lực quyến rũ mình, cuốn hút mình… thì trở ngại nào lại không thể vượt qua? Vì vậy, tính giữa cái được và cái mất, người ngoài nghề cho người gác Cu là kẻ ngu kể ra cũng không có gì quá đáng!

– Cầm chầu: Ở miền Nam, trong dịp cúng lễ Kỳ yên đầu xuân hàng năm, các đình làng thường tổ chức nhiều đêm hát bội. Tuồng tích các đêm hát đó được rút ra từ những pho truyện Tàu nổi tiếng như: Phong Thần, Đông Châu Liệt Quốc, Chung Vô Diệm… với những trích đoạn nêu bật lên những tấm gương Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa, trước cúng Thần sau mời dân làng giải trí.

Người được ngồi cầm chầu là người có chức vị lớn nhất trong làng, trong xã, có tiếng tăm được mọi người nể trọng. Đây là một vinh dự lớn lao chứ không phải ai muốn xung phong vào đảm trách cũng được!

Vị chức sắc này được mời ngồi trên một chiếc trống đại, đặt sát sân khấu để ông ta nhìn và nghe rõ được mọi tình tiết xảy ra trên sân khấu suốt buổi diễn. Tay ông ta không hề rời chiếc dùi trống để đánh khi vần.

Vì như quí vị đã biết, công việc của người cầm chầu là khi xem diễn tuồng, gặp câu hát nào hay (có ý nghĩa) hay điệu bộ nào xuất sắc thì tức khắc cầm dùi lên giáng vào giữa mặt trống một hoặc vài tiếng “Tùng” để khen thưởng. Ngược lại, nếu lớp nào mà diễn viên ca trật, cương dở, hoặc ra điệu bộ không đúng thì ông ta cầm dùi giáng vào tang trống (thành trống) một vài tiếng “Cắc” để chê trách. Như vậy, có nghĩa tiếng trống “Tùng” là khen, và hễ nghe “Cắc” là chê. Một buổi diễn mà người ta được nghe tiếng tùng nhiều, và thỉnh thoảng mới có tiếng cắc là buổi hát đó thành công…

Khổ nỗi, người đời thường trăm tính trăm nết, trình độ hiểu biết của họ cũng khác nhau…Cho nên điều mà vị chức sắc trong làng khen hay, nhưng biết đâu phía khán giả lại có người không đồng tình như vậy? Trong khi đó diễn viên trên sân khấu chắc gì đã bàng lòng với tiếng tùng, tiếng cắc của người cầm chầu? Hơn nữa, vị chức sắc ngồi cầm chầu tuy cố danh, nhưng chắc gì là người có học?

Chính vì vậy mà sau mỗi buổi hát bội cúng đình, người ta thường xầm xì dị nghị về những tiếng “Cắc, Tùng” của người cầm chầu, đa số cho vị chức sắc này là không hiểu truyện tích, là…ngu.

Tóm lại, được ngồi cầm chầu vinh dự đâu chưa thấy, mà trước mắt là cái bia để người khác nhắm vào mình mà chê bai, dù là không dám chê bai trước mặt.

Sống giữa làng xã, mang danh “ông nọ bà kia” mà bị nhiều người chê bai, nhất là chê…dốt nát, chê ngu thì thật không còn gì xấu hổ cho bằng!

Bốn cái ngu mà người đời nêu ra trên đây, quả thật cũng có phần đúng của nó:

– Đồ nghề ‘gác” Cu: Muốn gác Cu phải có một bộ đồ nghề. Mới nghe đến đồ nghề ai cũng tưởng là… to chuyện, mắc tiền, thật ra với người khéo tay có thể làm ra được mà dùng. Thường thì đồ nghề của ai nấy dùng, chứ không đi mượn của ai, gây phiền hà cho người khác. Người có khả năng thì sắm nhiều bộ, kẻ ít khi đi gác thì mỗi thứ sắm một bộ cũng được. Đồ nghề thì có nhiều thứ, nhưng tùy theo sở thích, tùy theo cách gác chim của mình, mà chỉ nên sắm những thứ cần thiết với mình mà thôi

a) Cu mồi: Đi gác Cu thì nghệ nhân nào cũng phải đem theo chim Cu mồi. Buổi gác Cu thành công hay thất bại đều tùy vào tài nghệ của con mồi. Thường mỗi dịp đi gác Cu người ta phải mang theo vài ba con Cu mồi để tiện dụng. Con nào làm phận sự thì cứ công việc mà làm. Con nào không phận sự thì cũng đi theo “thao tác” để khỏi bị “lụt” nghề, vì con nhà võ mà không năng “văn ôn võ luyện” thì “tay nghề” làm sao tinh tấn được!

b) Lục treo: Đây là chiếc bẫy rập thường được các nghệ nhân gác Cu ở miền Trung dùng đến. Nhưng hiện nay trong nước nhiều nơi cũng đã biết dùng, ở trên lục treo có cái móc để máng lục vào nhánh cây. Con Cu bổi từ nhánh chuyền vào cần là bị lưới rập xuống không sao vùng thoát được. Tất nhiên, trong lục treo đã có sẵn con Cu mồi. Ai chuyên đánh lục treo thì mồi lần đi gác phải mang theo vài ba chiếc để tiện dụng. Có nơi gọi lục treo là lục xếp.

c) Lục chạy: đây là chiếc bẫy rập Cu mà nghệ nhân trong Nam thường dùng. Lục chạy có cái cần đưa ra, được gác trên chảng ba cây, phía dưới lục móc sẵn cây sào đế giữ thăng bằng cho lục. Cây sào này có chiều dài tối thiểu phải vài ba thước, vì độ cao để treo lục chạy phải cách mặt đất từ ba thước đến bôn năm thước, tùy theo địa hình địa vật nơi gác lục. Đi đánh lục treo, đủ mang theo nhiều lục cũng chỉ cần một cây sào dài, nhưng gác Cu bằng loại lục chạy thì hễ mang theo bao nhiêu lục thì phải có bấy nhiêu sào. Cu mồi lục thường được hớt ngắn đuôi như vậy sống trong lục chúng dễ xoay trở. Để dụ con bổi vào lục, chim mồi hết kèm đến bo…xoay qua trở lại như…múa lân, do đó nó cần phải có chỗ rộng để tới lui mà không bị vướng bận. Đánh bằng lục, ta chỉ cần một con chim mồi treo lên mà thô

d) Cách đánh trần: Đánh trần là đánh không cần lục, nghĩa là con Cu mồi không bị nhốt kín trong lục, mà cho nó lộ diện ra ngoài như chim thả vậy. Mặt khác, đánh trần thì đánh ngay sát mặt đất, chứ không phải treo chim Cu mồi lên độ cao ba hay bốn năm thước. Có điều Cu mồi dùng để đánh trần phải là loại Cu mồi rất dạn, rất dữ, và phải ể dài đuôi cho được tự nhiên.

Đánh trần có hai cách:

– Cách thứ nhất gọi là đánh trăng, để Cu mồi đứng ngay trên mặt đất, một giò bị cột bằng một đoạn dây ngắn chừng ba tấc để chim có thể đi qua đi lại tự do trong vòng tròn có bán kính ba tấc đó

– Cách thứ hai là để cho Cu mồi đứng trên môt cục đất cày (cao khỏi mặt đất từ mười đến mười lăm phân là vừa). Dĩ nhiên, ta phải tập trước cho chim cảnh đứng quen.

Trong hai cách này, nếu quả thật Cu mồi rất dạn và rất dữ thì không cần dùng lồng úp (có nơi gọi cái úp). Ngược lại, nếu xét Cu mồi chưa được dạn dĩ lắm và cũng không dữ chim lắm thì bắt buộc phải dùng đến chiếc lồng úp để úp nó lại cho chắc ăn.

Lồng úp là một cái bộ khung bằng tre hay kẽm cứng và chung quanh phủ bằng lưới có mắt rộng khoảng ba phân. Nếu dùng lồng úp thì Cu mồi không cột chân bằng đoạn dây ngắn như trên đã nói cũng được, vì nó đâu còn chạy thoát được đằng nào. Chung quanh lồng úp có cắm nhiều “Dò” để chim Cu bổi sà xuống mắc dò vào chân…

Cũng xin được trình bày thêm cho rõ, sở dĩ đánh trần phải dùng loại mồi đất vừa dạn vừa dữ, vì phòng hờ bị chim bổi dữ bên ngoài tấn công. Có nhiều Cu bổi rất dữ dám sà vào tấn công thẳng Cu mồi đang bị cột giữa trời, hoặc nhảy trên nóc lồng úp mà cắn mổ chim mồi…Còn phần nhiều chim Cu bổi khác thì từ trên cao sà xuống ngoài đám dò một đoạn rồi mới bước lần vào…vùng tử địa.

– Dò: Dò là loại bẫy trông rất đơn sơ nhưng lại rất nguy hiểm cho những con chim do tham ăn hoặc do thích đấu đá với chim mồi mà gặp họa. Dò được làm bằng một đoạn tre ngắn khoảng 25 phân và vót nhỏ đầu to đầu nhỏ. Đầu to để cắm xuống đất cho chắc, còn đầu nhỏ được uốn cong như cần câu, mắc vào đó một cái thòng lọng bằng sợi chỉ nhỏ nhưng bền. Dò được kết nối thành từng bộ, bộ dài ngắn là tùy ý thích của mỗi nghệ nhân. Dò này nối với dò kia với sợi chỉ (dây nylon) và khoảng cách độ vài mươi phân. Cái dò cuối bộ thì nối vào một cục chì (nặng độ 100 gờ ram) để phòng ngừa chim bổi khi dính dò có tha dò đi cũng bị trì kéo không thoát thân được.

Chim bổi vướng dò bằng nhiều cách, có thể vướng vào chân, vào cổ. Và khi thòng lọng đã thắt vào thì nó chỉ còn cách bị bắt mà thôi.

Chim bổi đánh bằng dò nhất thời không thể phân biệt được tính hiền dữ của nó. Bắt theo cách này thường dùng như chim thịt mà thôi.

Con mồi đất tất nhiên là phải siêng “bẹo”, tức là siêng gáy, biết phóng biết rước càng tốt, như vậy mới đủ sức lôi kéo được chim bổi từ các lùm cây lân cận hoặc đang bay trên trời nghe “mời gọi” mà đạp xuống…

e) Cách đánh rập: đánh rập là đánh bằng lưới. Người ta dùng hai tấm lưới khoảng năm sáu thước lật banh ra hai bên. Khoảng giữa hai tấm lưới thì gài con mồi đất (không cần phải chim thuộc) rồi rải lúa chung quanh để dụ chim bổi bay đến kiếm ăn. Trong những mùa hạn hán, đồng khô cỏ cháy, người ta cũng dùng một con chim đứng giữa hai tấm lưới làm mồi, rồi đặt cách đó một thau nước (hoặc có vũng nước nhỏ tự nhiên càng tốt) để dụ chim trời xuống uống. Cu bổi từ trên cao thấy có thức ăn nước uống, lại tưởng con mồi có mặt là chim rừng đang ăn uống nên sà xuống nhập bọn. Người đánh bẫy ngồi từ xa. giựt dây cho hai tấm lưới úp lại là được. Xong mẻ này lại giăng lưới ra để bắt mẻ khác.

Đánh theo cách này có mẻ được đến năm bảy con, hoặc một vài con bổi. Trong trường hợp con mồi cứ đứng bất động, không đi tới đi lui (do có đoạn dây cột) thì người bẫy chim giựt dây cho nó té lên té xuống để gây sự chú ý cho những con bổi còn đứng trên các lùm bụi chung quanh.

Thật ra, hai cách bẫy “đánh trần” và “đánh rập” bằng lưới người xưa cũng biết, nhưng ít ai dùng, vì người xưa không ai muốn hại chim trời cá nước, vì cho đó là điều tội lỗi. Người ta di gác Cu (hay bẫy các loại chim khác) là muốn tìm một ít chim tốt về nuôi mà thôi, chứ không làm chuyện… sát sanh.

Cu Gáy là giống chim rất “bở” lông, nếu bắt không đúng cách để chim vùng vẫy thì lông trên mình nó sẽ rơi ra khỏi thân mình và bay tứ tung cả lên. Cách bắt chim bổi là úp bàn tay xuống, lừa thế cho đầu chim về hướng về phía cổ tay mình, rồi trên chụp xuống lưng cho chính xác, như vậy chim sẽ không vùng vẫy được.

Cu bổi bắt dược, những con biết chắc là hay (tính dừ, gáy được nhiều lèo…) thì lấy kéo hớt đuôi làm dấu để sau này bắt nuôi riêng, tất cả điều nhốt nuôi chung vào một chiếc lồng lớn…

Do một lần đi gác Cu có nhiều đồ vật lỉnh kỉnh, nên ta phải biết thu xếp cho có thứ tự, gọn gàng. Dù sao cũng phải nhớ mang theo đầy đủ thức ăn nước uống cho lũ Cu mồi đầy đủ để chúng khói bị đói khát. Nên đem theo dư thừa, đề phòng sự hư hao, đổ…

Một con Cu mồi tốt, nếu biết cách chăm sóc nuôi nấng, nó có thể sống với ta đến vài chục năm trời.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.