Nước nuôi cá đĩa

Bây giờ chúng ta đã biết chất lượng nước cần cho cá Đĩa như thế nào rồi. Vậy thì điều phải nghĩ đến là làm thế nào để đạt được chất lượng nước như vậy để nuôi những chú cá cảnh  tuyệt vời dưới những điều kiện hàng đầu?

Một số người nuôi cá Đĩa có may mắn ở ngay vùng nước mềm và đủ độ a xít nên không cần có sự bổ sung nào cả. Tuy nhiên, điều này rất thường không phải là hiếm thấy. Nước thường gây ra những triệu chứng bệnh cho loài Cichlid nuôi trong hồ, hay loài Live Bearer…

Độ cứng và độ pH:

Độ cứng và cách thể hiện lượng muối Carbonata, Bicarbonate, Sulfate, cùng các loại muối khác hòa tan trong nước, với loại Ca và Mg là mối quan tâm chính. Độ cứng được đặc trưng bằng đơn vị đo của Đức (DH) là đơn vị đo một phần muối Canxi carbonata hòa tan trong nước. Nước mềm có độ DH nhỏ hơn 3 nước trung bình có độ DH là 6 và nước cứng độ DH là 12 hoặc có khi hơn.

Độ cứng của nước nuôi cá đóng vai trò phụ đối với hồ cá. Vấn đề ở đây là làm sao nuôi chúng thành công, không phải là gây giống thành công. Do đó, nước có thể giữ độ trung bình và cứng, mà có thể gia tăng độ ổn định của độ DH.

Nói chung độ cứng của nước không quan trọng đối với sự sống của cá Đĩa, bằng sự sinh sản của chúng. Vì sao? Vì với độ cứng của nước gia tăng, áp suất thẩm thấu của nó cũng tăng, và trứng cá chỉ sống trong những điều kiện nào đó của nước. Tất cả đều như nhau, thành công trong việc gây giống chiếm nhiều thời gian, và việc cung cấp cho hồ cá một loại nước có độ cứng trung bình. Rõ ràng là độ ổn định sinh học của hồ cá có ảnh hưởng đến sự phát triển. Độ pH có tầm quan trọng cao hơn độ cứng. Độ cứng không được dưới 4,5. Một sự sụt giảm độ pH đột ngột trong một thời gian ngắn có thể gây ra những hiệu quả nghiêm trọng.

Cá Đĩa phải chịu những đau đớn ở màng nhầy, hay sự phát triển của những cặn trắng trên một hay cả hai mắt. Một khi mắt bị tổn thương là sự đau đớn của cá là vĩnh viễn, và tất nhiên giá trị của con cá bệnh đó bị giảm xuống.

Một khi bạn điều chỉnh độ pH của nước được như ý muốn, độ pH này được giữ khá ổn định nhờ vào chất nền và các cây có trong hồ. Có rất nhiều sản phẩm có thể làm giảm và gia tăng độ pH của nước. Độ pH nên trên 4,5 và dưới 7 mới tốt. Nước ở vùng sông Amazone, nơi cá Đĩa sinh sống có độ pH khoảng từ 5 đến 6. Nếu tất cả điều kiện về hồ nước đều lý tưởng thì cá vẫn sống được, nếu độ pH lớn hơn 7.

Chất trao đổi Ion:

Các chất này được dùng để hạ thấp độ cứng của nước bằng cách trao đổi muối trong nước bằng những hợp chất trung tính.

Các hạt nhựa cây tổng hợp, mà nhờ vào đó mà các Ion rời ra, chúng đi dùng trong việc trao đổi Ion. Những Ion này có thể dễ dàng trao đổi với các Ion khác. Các hạt nhựa này trong giống như cát, mà vì lý do này nên tốt nhất ta đặt chúng vào trong các ống nhựa, mà trongđó có thể xảy ra phản ứng với nước. Các hệ ống khác nhau giống như loại này có bán trên thị trường.

Thẩm thấu ngược:

Một phương pháp khác để giảm độ cứng của nước là sự thẩm thấu ngược. Rất đơn giản, trong việc thẩm thấu ngược nước được ép qua một cái màng tinh, và nó sẽ giữ lại các muốikhoáng và các tạp chất khác, sau đó cho ra nước sạch và không còn khoáng chất nữa.Không chỉ loại ra các khoáng chất mà còn những kim loại nặng, các sinh vật gây bệnh, các muối photphát và nitrat, clor và chloramine.

Sự luân phiên lọc:

Việc lọc nước là một hệ thống kín. Bộ lọc là một hệ thống trợ giúp cho sự sống của cá.Nếu không lọc nước, thêm vào đó là sự thay đổi nước thường xuyên thì cá sẽ không có dịp phát triển đầy đủ tiềm năng của chúng. Vệ sinh là vấn đề cần nhất trong bất kỳ hồ cá nào. Cá Đĩa sống trong nước hầu như không có amoniắc và rất ít vi khuẩn hiện diện trong nước máy. Để nhà bạn có được điều này, nước máy chứa ít hơn 100 vi trùng trong mililít. Được biết sông Amazone nơi cá Đĩa sinh sống một mililít nước chỉ chứa 5 vi trùng mà thôi. Chắc chắn rằng, cũng có vài nơi có chất lượng nước lý tưởng, và sự thay đổi nước thường xuyên hằng ngày, nhưng đây không phải là giải pháp thực tế cho hầu hết chúng ta. Chúng ta phải dựa trên hiệu quả của sự lọc nước hồ.

Không may là nước máy không luôn thỏa mãn được và những loài cá nhạy cảm sẽ phản ứng mạnh với nước ô nhiễm. Ngay cả một lượng nhỏ thuốc trừ sâu hay muối nitrat có thể gây ra vấn đề rắc rối. Do đó, một sự thay nước cục bộ lớn dưới một số điều kiện có thể gây rắc rối nhiều hơn là nó giải quyết.

Những người nuôi cá thường dùng hai loại hồ. Loại thứ nhất được gọi là hồ gây giống, có dung tích khoảng 150 đến 200 lít nước, và loại thứ hai dùng để nuôi cá, có dung tích từ 300 đến 450 lít. Do vậy mới cần hệ thống lọc khác nhau.

Lọc cơ khí:

Đây là hệ lọc thật sự. Nước qua màng lọc cỡ trung bình để ngăn các mảnh vụn. Mức độ thành công của loại này tùy thuộc vào cơ của thiết bị lọc. Loại càng tinh thì hiệu quả đem lại càng cao. Dụng cụ điển hình là cái lọc bằng nhựa, các tấm bọt biển, sỏi, và bất kỳ chất trơ nào dùng có thể ngăn được các phần tử cần lọc.

Lọc hóa học:

Các chất hóa học và chất khí không hòa tan sẽ đi thẳng qua lọc cơ khí. Để loại chúng, có những hợp chất được dùng để phản ứng với những chất hóa học này và trả chúng lại dưới dạng vô hại. Chất phổ biến là than hoạt tính, nó hấp thụ những chất gây độc hại như kim loại nặng và amoniắc. Bạn hãy nhớ rằng loại này chỉ hoạt động khi dụng cụ thật sự được lấy khỏi hồ và rửa sạch để không còn chứa những chất độc hại. Một khi thiết bị đã hấp thụ những chất hóa học tới điểm bão hòa thì nó sẽ ngừng, và có thể thải các chất gây hại cho nước. Vì thế, cần phải tháo thiết bị lọc vàrửa sạch thường xuyên. Hầu hết các loại lọc hóa học đều có nguyên lý giống lọc cơ khí, vì thế chúng có thể lược những mảnh vôi vụn lớn hơn, và thường dùng chung với lọc cơ khí.

Lọc sinh học:

Vi khuẩn (Nitrosomas) trong lọc trung bình là điều cần có để lọc, có thể hoạt động đúng chức năng. Những người nuôi cá cần nhận thấy rằng sinh học không thể lọc sạch nước và phân hủy các chất độc hại, nhưng tốt hơn là chỉ có vi khuẩn làm chức năng này. Lọc sinh học hoạt động nhờ những vi khuẩn này nhằm ngăn chặn nồng độ cao của amoniắc, muối nitrate, và nitrite trong hồ cá.

Khi bộ lọc bị trục trặc thì điều này có thể loại bỏ những vi khuẩn có lợi, và bộ lọc không còn đảm bảo đúng chức năng nữa, vì chất hóa học đã hoàn toàn bị trơ.

Một cái hồ không được chăm sóc tốt cũng có thể “bị mất cân bằng”. Bạn cần mất vài giây, hay thậm chí vài tuần đối với một loại vi khuẩn mới khi xác lập là khả năng hoạt động của bộ lọc đã được rửa sạch. Chỉ sau thời gian đó bộ lọc mới lấy lại khả năng hoạt động của mình. Vì lý do này mà lọc trung bình chỉ nên được ngâm trong nước âm ấm. Cụ thể là dùng bọt biển trong hệ thống lọc.

Hầu hết các bộ lọc đều dùng bọt biển để kích thích chu kỳ nitrogen hoạt động. Dụng cụ này cung cấp khả năng định cư cho các vi khuẩn có lợi. Chất nền được sử dụng chủ yếu là sỏi, nhưng cũng có nhiều chất khác cũng có khả năng ngay cả hầu hết những bộ lọc cơ khí.

Bề mặt của bộ lọc thường lấp đầy các vi khuẩn có lợi này, và thường chứa một nguồn thức ăn có sẵn dưới dạng những vật thể sinh học được ngăn lại.

Lọc sinh học tất nhiên cần một nguồn không khí trong sạch và mất vài tháng để chúng lớn đến mức đạt được hiệu quả làm việc. Chúng dễ dàng bị tiêu diệt do các loại thuốc cho vào hồ, vì thế bạn cần lưu ý đến điều này. Một vài loại dược phẩm được xác định rằng không gây hại cho nhừng loại vi khuẩn này.

Nếu vi khuẩn cấy vào bị tiêu diệt do việc lau rửa quá mức bằng nước nóng hay nguồnđiện bị ngắt trong vài giờ, và nước bắt đầu bị chua, tạo nên tình trạng thiếu oxy. Dấu hiệu bắt đầu xuất hiện là cá trồi lên mặt nước để thở.

Có thể áp dụng việc cấy vi khuẩn từ những hồ muôi và chúng sẽ nhanh chóng chiếm lấy toàn bộ lọc vi sinh. Đối với hồ mới lần đầu tiên thì không thể có sự định cư đầy đủ của vi khuẩn, thì người nuôi cá thường gặp khó khăn, khi họ nuôi cá trong hồ chưa đủ thời gian cho cây phát triển, và vi khuẩn nitrat hóa được ổn định.

Lọc thực vật:

Cây cỏ là một trợ thủ trong việc làm vệ sinh hồ và chúng làm việc như những bộ lọc sinh học và lọc hóa học. Trước đây, trước khi những loại lọc phức tạp ra đời và bất kỳ phương pháp lọc còn thô sơ, cá thường sống khỏe mạnh trong những bụi cây rậm rạp. Nhiều loài cá cảm thấy không còn an toàn, trừ phi chúng được sống trong các hồ cá mà cây được trồng trang trí ở mức độ vừa phải. Nhiều người nuôi cá cảm thấy họ đánh mất đi vẻ đẹpcủa hồ cá, trừ phi họ trồng được một vài loại cây đẹp nào đó. Nếu bạn mong muốn có lợi ích mang lại nhờ bộ lọc phụ thực vật thì vấn đề đơn giản ở đây là cho nước lưu thông dễ dàng qua những bụi cây rậm rạp, nơi có nấm và cây trang trí.

Lượng nước lưu thông:

Lượng nước lưu thông tính bằng đơn vị lít trong một giờ. Nguyên tắc chung là, đối với hồ đầy nước, lượng nước đi qua hồ là hai lần trong một giờ. Do vậy, đơn giản bạn chỉ cần 2 thể tích hồ chứa để có được lượng nước lưu thông cần thiết. Tuy nhiên, cần chú ý rằng các nhà sản xuất bộ lọc công suất lớn (power filter) thường chỉ định lượng nước tự do, đó là sẽ bơm lượng nước là bao nhiêu khi không có vật cản nào. Một khi thiết bị lọc được lắp vào hệ thống, tỉ lệ dòng chảy giảm sút đáng kể, và cần có sự điều chỉnh để khắc phục độ sụt giảm đó.

Lọc thô:

Các lọc dùng có nồi có thế dùng làm lọc thô trong nhiều bộ lọc. Những phần tử thô trông thấy được nằm ở những lớp thấp hơn và bị phân hủy ở đó do vi khuẩn. Các lọc này nên thay hàng tuần.

Lọc bằng bọt biển:

Những loại lọc nhỏ hơn đã chứng tỏ được khả năng trong những hồ để gây giống. Lượng nước luân chuyển không nên quá nhanh, và dòng chảy cũng không được quá mạnh. Nếu những hồ này được lọc riêng lẻ, ta nên dùng bọt biển hay foam. Nhưng cái lọc bằng bọt biển này được trang bị bằng một hay hai miếng bọt biển và được lắp một cách đơn giản vào bơm không khí.

Cái lọc bằng bọt biển thường bị co nhẹ, nhưng thực sự nó rất có hiệu quả, cụ thể là khi ta nuôi cá bột. Bề mặt miếng bọt biển thường là thô trung bình đối với việc nitrat hóa vi khuẩn, ngăn nhừng phần tử riêng lẻ, và là nơi cư ngụ của những loài Rotifier. Đây là loại thức ăn nhiều dinh dưỡng cho cá bột và những loại cá đã lớn. Điều này cũng dễ hiểu vì sao một hồ cá trở nên trong xanh khi dùng bọtbiển để lọc, và sự trong sạch của hồ được giữnhư thế nào.

Các loại lọc bằng bọt biển này có thể hoạt động trong một thời gian rất dài. Chỉ cần thay lọc thường xuyên và ngâm chúng trong nước âm ấm là nó sẽ hoạt động bình thường trở lại. Việc lọc bằng bọt biển này có thể dùng kèm với bộ lọc có công suất lớn (power filter). Cùng một lúc dùng lọc bọt biển cùng với các bộ lọc nhỏ bên ngoài. Gần đây cho thấy rằng những bộ lọc nhỏ bên ngoài được điều khiển bằng bơm chỉ 5 watt một giờ. Hộp đựng bộ lọc bên ngoài được treo lên vành hồ và hoạt động bằng một mô tơ nhỏ bên trong, nước được bơm qua một ngăn lọc nhỏ rất có hiệu quả, và được bơm trở lại vào hồ cá.

Các loại lọc bên ngoài chỉ được gắn bằng bọt biển thô, và để nước có thể chảy liên tục. Cùng có thể dùng thêm một lượng nhỏ than bùn hay than hoạt tính cho những loại lọc này. Bằng cách này có thể thay đổi dễ dàng độ pH của nước bằng than bùn. Dùng than hoạt tính có thể giúp loại bỏ các loại thuốc có trong hồ. Nếu có ấu trùng cá Đĩa hay cá bột bên trong hồ, thì ngõ vào phải được đóng lại bằng nút cũng là bọt biển. Như vậy, nước được rút ra nhưng cá bột thì không. Sự kết hợp giữa hệ thống cho dòng chảy nhanh hơn bằng bộ lọc dùng bọt biển làm dòng chảy chậm đi, và như vậy là một giải pháp tốt.

Hộp lọc đơn giản:

Hộp lọc đơn giản (Box filter) là những loại lọc đơn giản nhất làm bằng nhựa, và bạn có thể đặt vào một góc hồ. Một cái ống nhựa dẫn từ đế và một miếng alrstne được gắn vào để giữ. Các loại lọc trung như tơ sồi, hay tơ sồi cùng than củi được đặt vào hộp, trong đó có chừa lỗ và rãnh cho nước chảy qua. Nếu đặt một lớp đá cẩm thạch vào đáy hồ cũng rất hữu dụng, nó không ngăn cho vỏ hộp lơ lửng, và tạo một bề mặt thích hợp cho việc nitrat hóavi khuẩn. Một khi hộp được đặt trong hồ có nước, bao gồm cả ống nhựa mở tại ngay hay dưới bề mặt lớp nước. Một khi mở luồng không khí nó tạo dòng nước hướng thẳng lên, rút nước chung quanh, nhờ đó các mảnh vỡ được lọc trong hộp, và ta chỉ cần thay thường xuyên để thay hay rửa sạch lọc. Đây là loại lọc cơ khí và có đặc tính lọc sinh học trung bình.

Đây cũng là loại lọc lâu đời nhất và đơn giản nhất nhưng nó vẫn là một trong những loại hiệu quả nhất, và phù hợp cho những người chơi cá có thu nhập thấp.

Bộ lọc mạnh:

Với những hồ nhỏ hơn 250 lít thì loại bộ lọc mạnh (power filter) rất phổ biến vì nó đem lại hiệu quả cao. Bộ lọc mạnh này lại dễ bảo quản, dễ lắp đặt và có độ tin cậy. Nó gồm việc lọc cơ khí và sinh học, và cùng với than củi nó tạo nên khả năng lọc những hóa chất. Gần như mỗi nhà sản xuất đều cung cấp loại bộ lọc phù hợp, nhưng bạn cũng nên tùy vào khả năng tài chánh của mình để chọn một loại phù hợp với ý thích và khả năng tiền bạc của mình cho phép.

Bộ lọc này treo bên ngoài ở phía sau, hay thành bên của hồ cá. Bộ lọc gồm hộp lọc và bơm nước. Thiết bị lọc đặt trong hộp, và nước được rút vào hộp thông qua một ống dẫn trong hồ cá. Nước sau đó qua thiêt bị lọc và chảy ngược vào hồ cá.

Bên trong loại lọc này, nguyên lý vậnhành cũng tương tự. Nước được rút vào trong vòi hút bên trong hồ và chảy ngược vào nhờ động lực của mô tơ điện cung cấp.

Lọc nước hình hộp trà:

Đối với những loại hồ không dùng lâu thì có thể dùng loại lọc hình hộp trà (Canister filter) gắn bên ngoài.Đây là loại lọc làm việc bền bỉ.Trông nó như một bộ máy phức tạp gắn trong hộp, nhưng nếu tháo ra thì nó lại khá đơn giản.Các bộ phận lọc và bộ phận cơ khí, tất cả đều đựng trong hộp thiếc. Hai vòi, một vòi để rút nước từ hồ, còn vòi kia đưa nước trở lại vào hồ. Hai vòi này được gắn vào hộp thiếc được đổ đầy những thành phần lọc nước.

Nếu dưới đáy hồ có đủ chỗ trống thì bạn nên dùng nơi này cho bộ lọc.Và bạn có thể dùng loại lọc Canister Filter lớn để sử dụng vài tháng mà không cần lau chùi gì cả.

Để đơn giản hóa việc lau chùi, hãy dùng một ống nối dễ tháo để gắn các ống cao su. Những bộ lọc có các dây điện trở nhiệt sẵn sàng cung cấp nhiệt.

Bộ lọc nước với dòng nước nhỏ:

Bộ lọc nước với dòng nước nhỏ (Trickle filter) còn gọi là lọc ẩm rất phổ biến đối với những người chơi cá Đĩa. Ban đầu những người chơi cá biển dùng nó. Loại cá này thích hợp với những loại cá nước ngọt nhạy cảm.Chúng là loại sinh học với dòng nước hồ chầm chậm và có hiệu quả rất cao. Lọc vi sinh hoạt động tốt hơn ở giá trị pH cao hơn điểm trung hòa, nhưng cũng khá hiệu quả với độ pH thấp thường thích hợp cho cá Đĩa. Lọc trickle phải dùng thiết bị lọc rất tinh, vì trong thời gian bị giữ lại lâu những phần tử bị loại bỏ phân hủy rất nhanh chóng và làm bẩn nước. Các thiết bị lọc chuyên dùng cho loại trickle này đều có trên thị trường.

Lọc nước chính:

Những người nuôi cá Đĩa đẻ thường nối kết tất cả các hồ nuôi cá đẻ và sử dụng một lọc nước chính.Loại lọc trung tâm này dùng nhiều loại lọc riêng lẻ với các màng lọc thô và một vài ngăn lọc với những thiết bị lọc khác nhau.Loại lọc đa năng này tất nhiên là có kích thước lớn.

Kích thước của lọc trung tâm đối với hồ nuôi cá đẻ cần tương đương tối thiểu 20% lượng nước lọc.Tất cả hồ nuôi cá đẻ nối kết với bộ lọc này bằng hệ thống ống khoan lỗở mặt kính phía sau của hồ, và lắp ống vào.Tất cả ống này gặp nhau tại ống chính dẫn vào cái lọc đa ngăn.Bằng cách này tất cả nước từ hồ đều dẫn vào ngăn lọc thô.Nước sau khi được lọc sẽ chảy vào một vài ngăn lọc và tụ vào một ngăn.Trong ngăn này có đặt một cái bơm công suất lớn dẫn nước sạch lên cao hơn so với bể nuôi, ở đó, lắp một hệ thống ống khác, với mỗi nhánh đi vào từng hồ cá đẻ.Mỗi nhánh của đường ống chính gắn một ống cao su.Điều này làm dễ dàng điều chinh lượng nước vào từng hồ. Khi nước sạch vào hồ thì một lượng nước dơ bằng như vậy sẽ tràn vào ống thải. Nhờ vậy mà hệ thống lọc là tuần hoàn kín.

Do nhiệt độ trong hồ nuôi cá đẻ cao, do vậy bạn phải luôn nhớ rằng có một lượng nước lớn sẽ bay hơi. Vì thế bạn phải thường xuyên kiểm tra mực nước trong máy lọc.

Điều khó khăn đối với hệ thống lọc trung tâm này là sự lây lan bệnh truyền nhiễm. Do vậy, bạn chỉ nên nuôi những con cá khỏe mạnh đối với hệ thống này. Bạn phải kiểm dịch chúng tối thiểu một tuần ốn lần. Nếu cập nhật hóa lại càng hay.

Với những hồ nuôi cá lớn hơn, cũng có thể nối kết với nhau dùng bộ lọc đa năng này. Tuy nhiên vấn đề ở đây là cần có sự kiểm dịch và khả năng lây lan bệnh tật thật sự là điều phiền toái. Tốt hơn hết đối với hồ nuôi cá là nên trang bị một bộ lọc riêng lẻ.

Ngăn lọc nước:

Hệ thống mà bạn chọn sử dụng cho hồ nuôi cá Đĩa của mình phụ thuộc vào việc bạn đặt hồ cá. Nếu đặt trong ngăn tủ thì bạn có đủ chỗ cho ngăn lọc nước (còn gọi là buồng lọc nước) kế bên cạnh. Ngăn lọc nước này có thể đặt trong hồ cá, nhưng tốt hơn là đặt riêng lẻ dọc theo cạnh nhỏ hồ. Cái lọc này được chia làm vài ngăn bằng những tấm thủy tinh đặt đứng.Bằng cách này, các ngăn lọc có thể đỡ đẩy những chất liệu lọc khác nhau, như tơ sồi, các ống ceramic, sỏi, than hoạt tính.Bơm đặtở ngăn cuối cùng để đưa nước được lọc trở lại hồ.Nếu cái lọc này có kích thước phù hợp thì thời gian giữa các lần chăm sóc có thể là vài tháng, hay thậm chí đến một năm.Tuy nhiên, trong trường hợp này cần có một cái lọc thô bằng tơ sồi.Ngăn lọc này cần được rửa sạch chất bẩn, mỗi tuần một lần.

Lọc dùng sỏi:

Lọc dùng sỏi chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động của vi khuẩn nhờ hiệu quả của nó, và do việc lọc bằng cơ khí những mảnh vụn lẫn trong sỏi. Loại này dùng một cái đĩa thường bằng nhựa, nổi lên khoảng 1 phân đối với hồ. Sỏi bao phủ lấy bộ lọc và không gian dưới đĩa là nơi để nitrat hóa vi khuẩn tạo nên một cái lọc sinh học rất hiệu quả. Thường có hai cái ống được nối với nguồn không khí để rút nước qua lớp sỏi và dưới đĩa lọc nơi vi khuẩn làm công việc của chúng. Nhưng, tốt hơn là bạn không nên dùng lọc bằng sỏi cho cá Đĩa vì khi mất điện cá sẽ bị nguy hiểm.Vì nếu bị mất điện trong một thời gian ngắn thì loại lọc này sẽ nhanh chóng bị kị khí và cá sẽ không sống nổi.

Sự thông khí:

Sự cung cấp thêm không khí vào hồ cá bằng thiết bị cơ khí gọi là sự thông khí, và nó mang lại cho ta nhiều lợi điểm rất quan trọng. Nếu không khí được thải ra ngay trên chất nền sau đó, nó sẽ thu hút các phân tử nước và hỗn hợp nước, cùng khí nhẹ hơn nước sẽ nổi lên trên và nó tạo thành dòng nước gây nên sự đối lưu của nước. Điều quan trọng tương đương CO2 hòa tan vào nước và cũng được thải ra trên bề mặt nước. Lượng CO2 quá mức gây nguy hiểm giống như sự thiêu hụt O2.Trong hồ cá quá bão hòa oxy, cá có thể bị chết ngạt nếu nước chứa quá nhiều CO2, hoặc những chất khí độc hại khác. Như vậy thì máu trong mình cá không thể thải ra ngoài khí CO2 nhanh được, và do đó không thể cung cấp O2 kịp thời.

Các bọt nước được tạo khi bơm không khí vào hồ chỉ cung cấp một lượng rất ít oxy.Thực tế là những bọt nước này đẩy nước thiếu oxy lên mặt nước, và nhờ đó gia tăng lượng oxy toàn bộ trong hồ.

Nếu bọt nước nhỏ, và nếu màng bọt nướcđược tạo bằng airstone thì sẽ cung cấp thêm oxy, và lượng oxy này sẽ thải ra khi bọt nước vỡ.Không chỉ bọt không khí đẩy nước thiếu oxy lên mặt hồ, chúng còn có nhiệm vụ khác. Khi bọt bong bóng vỡ ra tại mặt hồ, chúng sẽ khuấy động nước, điều này làm gia tăng bề mặt tiếp xúc tạo điều kiện cho oxy hòa tan vào nước. Với việc gia tăng tối đa lượng oxy ta có thể tăng lượng số cá nuôi trong hồ lên nhiều hơn vì hồ đã được thông khí. Sự thông khí cũng giúp lấy đi những khí độc. Các vi khuẩn cần cho quá trình nitrat hóa, sẽ chuyển đi những nitrid độc hại sang dạng nitrát cần một nguồn cung cấp oxy đầy đủ. Vì thế, một lần nữa sự thông khí sẽ có ảnh hưởng tốt đến khả năng loại bỏ những chất độc hại.

Dĩ nhiên sự thông khí cũng giảm sự nguy hiểm do tạo thành từng tầng nước, nguyên nhân là do nước yên lặng. Vì thế nó cung cấp nhiệt xuyên suốt khắp cả hồ.

Lượng oxy trong hồ thay đổi theo nhiệt độ. cũng như những yếu tố khác, và do cá Đĩa cần môi trường sống có nhiệt độ cao nên tốt hơn là bạn nên để ý đến lượng oxy trong nước.Nhiệt độ càng cao, lượng oxy càng thấp. Bạn có thể đo hàm lượng oxy trong nước bằng cách dùng những bộ thử có bán ở cửa hàng. Và bằng cách ghi nhận những thời điểm khác nhau, bạn có thể tự lập biểu đồ về lượng oxy trong một quãng thời gian.

Airstones:

Một phương pháp thông thường để dẫn nước vào hồ là thông qua một miếng airstone gắn dọc theo chiều dài ống nhựa nối với bơm không khí. Airstone là bất kỳ loại vật liệu nào có tính xốp như là: nỉ, đá hay gỗ, nhưng người ta thường dùng loại đá xốp. Nó có thể là một khối lập phương nhỏ hay một miếng khuếch tán dài hình chữ nhật. Lượng khí thải ra thay đổi không chỉ do áp suất bơm vào mà còn do kích thước của miếng airstone nữa. Nó thường đặt gần phía sau hồ cá hay giấu sau viên đá. Người ta dùng hai hay nhiều miếng airstone dài để lập một bức tường che những bọt khí trông cũng khá hâp dẫn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.